Nhạc nền: "Trưng Vương"
Thơ Lê Nguyên Tịnh, nhạc Phạm Quang Ngọc

HỎI ĐẢNG BÙ NH̀N
Bài Xướng


Tầu đỏ ngang nhiên lấn biển Đông,
Khiến bao người Việt xót xa ḷng.
Sớm hôm trắc ẩn t́nh dân tộc,
Ngày tháng quan hoài nghĩa núi sông.
Xưa bởi Hồ, Đồng dâng hải đảo,
Nay v́ Trọng, Dũng hám hơi đồng.
Âm mưu Hán hóa toàn dân Việt,
Hỏi đảng "Bù Nh́n" có biết không???

Từ-Phong

ĐỒNG THANH TƯƠNG ỨNG
Là Bài họa 20 của thi hữu Từ Phong
đa tạ tất cả qúy thi hữu đă hưởng ứng
góp hoạ bài
"Hỏi Đảng Bù Nh́n"

Bốn phương Thi hữu họa vần đông
Trắc ẩn cùng chung một nỗi ḷng
Phản kháng Bắc phương xâm biển đảo
Ngăn ngừa bành trướng lấn non sông
Dùng thơ chống giặc, tâm nào khác
Mượn bút trừ gian, ư vẫn đồng
Đa tạ bạn bè cùng chí hướng
Đấu tranh cứu nước, chẳng ngồi không.

07-28-2011 TỪ PHONG

Kính mời Quư Vị cùng đọc và suy gẫm về loạt bài xướng họa bên dưới cùng với các h́nh ảnh toàn dân Việt Nam vùng dậy phản đội giặc Tàu

và bè lũ tay sai bán Nước "Đảng Cộng Sản Việt Nam"

Hải Quân Thiếu Tá QLVNCH Ngụy Văn Thà

(ảnh BTTM/QLVNCH)

Bài Họa 19
Diệt Hán Tặc Cứu Non Sông

Kính họa bài “Hỏi Đảng Bù Nh́n” của Từ Phong

Toàn Dân vùng dậy giữ Biển Đông.
Nam Bắc đồng tâm quyết một ḷng;
Gái tú hô vang tru Hán Tặc.
Trai thanh réo gọi cứu Non Sông!
Sĩ phu, nghệ sĩ đà bài Đảng,
Già trẻ, thơ nhi đă tố Đồng;
Một lũ gian manh Hồ, Mạnh, Dũng…
Quê Hương đem bán, hổ ngươi không!?

Joseph Duy Tâm, 28-07-2011
=======================

Bài họa 1

Bù Nh́n, lũ Cộng hiểu hay không?
Sao vẫn u mê hám của-đồng?*
Giữ đảng, sẵn sàng dâng biển đảo,
Ǵn hồng, đâu ngại bán non sông!
Trai Nam Hưng-Đạo: luôn bền chí,
Gái Việt Trưng-Vương: măi vững ḷng.
Gióng trống Hà-Hồi, nêu đại nghĩa,
Diệt thù danh rạng cơi trời Đông???

Lệ-Khanh
=======================

Bài họa 2
ĐÚNG HAY KHÔNG


Việt Nam đợi măi một vừng Đông
Mấy chục năm trôi thổn thức ḷng
Cộng vẫn giam cầm dân với nước
Tàu c̣n xâm chiếm núi cùng sông
Mong người Nguyễn Huệ vung gươm thép
Đợi khách Trưng vương phóng đạn đồng
Tổ Quốc không về tay giặc đỏ
Phải do tranh đấu đến cùng không ?

Ngô Minh Hằng

Bài họa 3
AI YÊU TỔ QUỐC


Giặc Tàu xâm lấn đă bao Đông
Cắt đất là như cắt nát ḷng
Em bé biểu t́nh đ̣i lại biển
Cụ già phản đối lấy về sông
Giết dân, Dũng - Triết mua roi sắt
Bán nước, Hồ - Chinh đổi súng đồng
Chúng biến Việt Nam thành Hán địa
Ai yêu tổ quốc tủi hờn không ???

Ngô Minh Hằng
=======================

Bài họa 4
LẠ LÙNG

Xấc xược Tàu phù xuống biển Đông,
Làm người dân Việt thấy đau ḷng.
Hôm nay lấn át từng sào đất
Mai mốt tranh dành cả khúc sông.
Khờ dại Đảng ta buôn sắt thép
Ngu đần Nhà Nước bán nhôm đồng,
Núi sông biển đảo c̣n đâu nữa.
Non nước Tiên Rồng mất, lạ không?!

Trịnh Cơ. 24/6/2011
=======================


Bài họa 5
Hèn với giặc


Mối thù phương Bắc ngập trời Đông
Tổ phụ đồng tâm dốc một ḷng
Hội nghị Diên Hồng thề quyết chiến
Bạch Đằng phá địch rạng tên sông
Đống Đa trống trận tan hồn Đống
Nhượng đảo ngày nay kư Phạm Đồng
Một lũ quân gian hèn với giặc.
Có c̣n liêm sỉ để đâu không.

Uyên Quang , 6-24-2011
=======================


Bài Họa 6
1- ĐẸP MẶT


Nước ta Hồ bán đă nhiều Đông.
Hư hửng Tàu mua đă thoả ḷng!
Lưu xú vạn niên mua chức hăo,
Ô danh muôn thuở bán non sông.
Sơn hà gấm vóc do xuơng máu,
Xă tắc tanh banh bởi bạc đồng.
Đẹp mặt cộng Hồ cùng hậu duệ,
Soi gương mặt mũi giống người không?

Dzoăn Thường, Pasadena, 24-6-2011

Bài Họa 7
2- PHẢN QUỐC


Biên giới bán rồi tới biển Đông,
Con dân nước Việt quá đau ḷng
Tàu phù hư hửng chiếm thêm biển,
Việt cộng thản nhiên hiến núi sông.
Cơng rắn cắn gà mất sạch vốn
Nuôi ong tay áo được dăm đồng
Việt gian bán nước vẻ vang nhỉ!
Phản quốc theo Tàu có nhục không??

Dzoăn Thường 24-6-2011
=======================


Bài Họa 8
Vùng lên


Hồng quân giặc Bắc quậy phương Đông
Xích qủy nước Nam chẳng xót ḷng
Con Cháu Triệu, Trưng: Ǵn lảnh hải!
Giống ṇi Trần, Nguyễn: Giữ non sông!
Vùng lên lật đổ phường hồ cộng
Đứng dậy đánh tan lũ cáo đồng
Ḱa bọn Việt gian đang bán nước
Hỡi người yêu nước biết hay không?

Hương Saigon kính họa
(24/06/2011)
=======================


Bài Họa 9. 10. 11

(3 bài họa của Lê Thị Việt Nam):
1. Việt Nam Coi Vậy Khó Xơi.

Người chờ kẻ đợi hướng vừng Đông:
Hạm Mỹ Cam Ranh thảy nức ḷng...
Việt Cộng lưỡng nan ngùi thế nước!
Tàu phù kế hoạch ngoạm non sông!
Mc Cain khuyến cáo tầm quan ngại...
Jim Web thoáng thông ư hội đồng...
Tưởng bở, Việt Nam như món hóc:
Nuốt vào mắc nghẹn chết như không!

Lê Thị Việt Nam

Bài Họa 10
2. Tàu Cộng Ngậm Phải Lưỡi Ḅ


Ư rằng ḿnh xưng bá phương Đông!
Bức hiếp, dọa đe tưởng khiếp ḷng...
Trái khuấy...lưỡi ḅ thèm manh động!
Máu hùa độc diễn chiếm non sông...
Vết đời thắc thỏm chưa nguôi hận...
Ranh giới gian ngoa muốn đại đồng!
Lợm giọng phân bua đâu chứng lư?
Mép mồm liếm láp hết nhơ không?

Lê Thị Việt Nam



Bài Họa 11
3. Danh Thắng Cam Ranh,


Cam Ranh rạng rỡ mặt trời Đông!
Tương đắc chờ nhau...vốn giữ ḷng:
Nga muốn vầy duyên chưa gửi phận!
Mỹ nh́n phải bụng... ngại non sông!
Con Hồng sử mệnh buồng gan thép...
Cháu Lạc kinh luân trách nhiệm đồng!
Cung kiếm, giáp vàng noi khí phách...
Tàu phù dọa dẫm chói tai không?

Lê Thị Việt Nam
=======================


Bài Họa 12
Hăy tự cứu lấy quê hương


Ly hương trốn giặc bỏ trời đông
Nhớ thuở vượt biên tan nát ḷng
Cộng sản vào Nam gieo hăn hăi
Buôn dân rồi cống hiến non sông
Thế nên giải thể toàn quân cộng
Hăy nhớ đừng quên tích trụ đồng
Dân Việt hùng anh giành lại nước
Ngồi than trời đất cũng bằng không !

Liệt Sĩ Hằng
======================


Bài Họa 13 :

Nước Nam Văn Hiến một trời Đông
Nay bị Cộng xâm đau xót ḷng
Bách Việt bốn ngh́n năm đất Tổ
Tiên Rồng một giải gấm non sông
Biên thùy ải cống nộp Tầu Phỉ
Hải đảo dầu loang thoát Đại Đồng
Máu Đỏ Da Vàng mau phục quốc
Toàn Dân chẳng lẽ bó tay không

Tố Nguyên
======================


Bài họa 14:
HỎI ĐẢNG BÙ NH̀N


Nước mất nhà tan có thấy không?
Hay đành nhắm mắt bởi hơi đồng?
Bịt tai, bán đất luôn Nam Ải,
Cúi mặt, dâng Tàu cả biển sông.
Cộng đảng bù nh́n đành muối mặt,
Toàn dân uất hận quá đau ḷng.
Đất Nam là của dân Nam ở,
Biết đến bao giờ mới rạng đông?

CHÁNH MINH
27/6/2011
======================


Bài họa 15
TẦU Ô TỚI SỐ


Tầu ô chúng nó số quân đông,
Giao Chỉ hiên ngang kết một ḷng.
Quyết liệt suy tôn dân Việt Tộc,
Kiên tŕ chiến đấu đoạt rừng, sông.
Mài gươm sáng loáng vung cao chém,
Đạn bắn đi xa tựa súng đồng.
Xé xác quân thù trên đất Việt !
Trung Hoa tới số chết như không.

July, 23, 2011. Lê Đắc
======================


Bài họa 16
XUẤT CẢNG GÁI QUÊ


Gái quê ra tỉnh thật là đông,
Mụ Tú nghe tin quyết một ḷng.
Dụ dỗ em ngoan xa họ Sở,
Chờn vờn cháu qúy lánh non sông.
Đài Loan muốn vợ nghề buôn bán,
Hàn Quốc ham dâu nghiêp ruộng đồng.
Thủ tục xong xuôi rới nước Việt,
Theo chồng xứ lạ có buồn không ?

Phoenix, July 23, 2011. Quách Thị Dung
=========================

Bài Họa 17
“HỎI DẢNG BÙ NH̀N”
HỌA VÂN BÀI của TỪ PHONG

Giặc Hán từ ngày chiếm cơi Đông,
Trung Ương Đảng bộ có đau ḷng ???
Mặc dân xơ xác không c̣n núi,
Thây nước tan hoang đă mất sông.
Thờ cúng Mác, Lê là gă Duẩn,
Tôn sùng Mao, Đặng chính tên Đồng
Giang sơn cẩm tú gịng Viêm Việt,
Yêu nước, thương ṇi có xót không ??

25-7-2011 TRƯỜNG GIANG
========================

Bài Họa 18
ĐỤNG VÀO BÁCH VIỆT
                   CHẾT NGHE KHÔNG

Thi nhân xúm họa thực là đông
Hẳn bác Từ Phong thấy hả ḷng :
Giới trẻ xung phong ǵn xứ sở .
Phe già quyết chiến giữ non sông .
Tâm can vị quốc tâm như sắt .
Ư chí v́ dân ư tựa đồng .
Bớ lũ Tàu phù quân Chệt luộc
Đụng vô Bách Việt chết nghe không ?

LTĐQ
=======================


Bài Họa 19
Diệt Hán Tặc Cứu Non Sông

Kính họa bài “Hỏi Đảng Bù Nh́n” của Từ Phong

Toàn Dân vùng dậy giữ Biển Đông.
Nam Bắc đồng tâm quyết một ḷng;
Gái tú hô vang tru Hán Tặc.
Trai thanh réo gọi cứu Non Sông!
Sĩ phu, nghệ sĩ đà bài Đảng,
Già trẻ, thơ nhi đă tố Đồng;
Một lũ gian manh Hồ, Mạnh, Dũng…
Quê Hương đem bán, hổ ngươi không!?

Joseph Duy Tâm, 28-07-2011

=======================

"ĐỒNG THANH TƯƠNG ỨNG"
Là Bài họa 20 của thi hữu Từ Phong
đa tạ tất cả qúy thi hữu đă hưởng ứng
góp hoạ bài
"Hỏi Đảng Bù Nh́n"

Bốn phương Thi hữu họa vần đông
Trắc ẩn cùng chung một nỗi ḷng
Phản kháng Bắc phương xâm biển đảo
Ngăn ngừa bành trướng lấn non sông
Dùng thơ chống giặc, tâm nào khác
Mượn bút trừ gian, ư vẫn đồng
Đa tạ bạn bè cùng chí hướng
Đấu tranh cứu nước, chẳng ngồi không.

07-28-2011 TỪ PHONG


*********************************************

NGƯỜI CON GÁI VIỆT NAM
 
Mến tặng Em
Trịnh Kim Tiến

Em, người con gái Việt Nam;
Ḍng Họ TRỊNH, giống Da Vàng.
Gác thù nhà, đi cứu Nước,
Chống giặc Tàu! Em hô vang...!

Vai Em mang dăi Giang San,
Hoàng Trường Sa; của Việt Nam!
Em nâng cao Hồn Tổ Quốc,
Giữa đoàn người, Em hiên ngang.

Tôi thương Em, người con gái Da Vàng,
Rồi yêu Em, người con gái Việt Nam!
Bởi v́ Em người thục nữ hiên ngang;
Và v́ Em quyết chống Tàu tham tàn!

Joseph Duy Tâm 24-07-2011
*************************************

NGƯỜI CON GÁI VIỆT NAM

Nhạc và lời Dzuy Lynh
(viết tặng sinh viên Hà Nội Trịnh kim Tiến )


Có phải Em ? Nguời con gái hiên ngang !
Quên thù riêng ...theo Mệnh Nước lên đàng ...
Chính là Em ! Người con gái da vàng !

Đi giữa hàng người cất tiếng hô vang :

" Hăy xéo đi ! giặc Tàu phương Bắc !

Hăy quên đi mộng cướp biển tham tàn ...

Ḥang,Trường Sa là đất của phương Nam

Ḥang,Trường Sa là đất của Việt Nam ! "

Bốn ngh́n năm cha ông cha ta dựng nước

Là dân Nam ta phải giữ cơ đồ !

Một ngh́n năm nô lệ gông xiềng

Hận ngh́n năm dân Việt đảo điên

Đất Việt Nam là đất của người Nam !

Biển Việt Nam là biển của dân Nam !!!

...Từ phương xa ngăn cách mấy đại dương

Thấy áo em bay giữa cờ gió lộng

Xin nghiêng ḿnh tặng Em nhành Nguyệt Quế

Viết bài ca tặng Em Người Con Gái Việt Nam !

Gửi đến Em ! Người Con Gái Da Vàng !

Gửi đến Em ! NGƯỜI CON GÁI VIỆT NAM !

Dzuylynh
 

California July.25.2011.
(Joseph Duy Tâm đa tạ và xin phép tác giả Dzuy Linh được phổ biến lời Ca Khúc Thời Sự nêu trên)

*********************************************

Kính mời Qúy Vị đọc thêm tài liệu dưới đây.


ẢI NAM QUAN ĐĂ MẤT!  AI BÁN?

Tác giả: Chân Mây

Ven trời góc biển buồn chim cá
Dạn gió dày sương tủi nước non

Thượng Tân Thị

Bi thương thay cho lịch sử Việt Nam!
    Từng cây số trên quê hương là từng gịng máu lệ, máu của cha ông ngăn thù và máu của hai miền huynh đệ chan ḥa vào nhau trong hoan lạc dành cho Quốc tế Cộng Sản. Và đang trở về đây là những bước chân âm thầm của ngàn năm nô lệ. Kết qủa từ công cuộc nhuộm đỏ mạo danh “độc lập, tự do, hạnh phúc” theo tư tưởng Hồ Chí Minh và đồng bọn.
    Hăy tiếp tục nh́n những ǵ mà CSVN đang ra sức thực hiện: “Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan không thuộc lănh thổ Việt Nam!”. Họ cố chối bỏ lịch sử Việt Nam và ra sức tranh căi, biện luận với dân Việt thay cho Trung Cộng. Ô nhục! Từ quan đến quân, CSVN chỉ là một lũ tôi mọi dâng đất, dâng biển của tổ tiên cho ngoại bang bằng văn tự công hàm, hiện rơ h́nh hài là một bọn quái thai chưa từng có trong lịch sử nhân loại!
    Chấp bút cho đề tài “Ải Nam Quan”, thay v́ tranh luận bằng văn chương, tôi sẽ sử dụng giá trị của những tư liệu bằng h́nh ảnh. Bởi v́, đă có rất nhiều nghiên cứu công phu của các tác giả yêu nước Việt nồng nàn đă là qúa đủ để khẳng định “Ải Nam Quan là của Việt Nam! Ải Nam Quan thuộc về Trung Cộng là do sự hiến dâng của Đảng CSVN!”. Những h́nh ảnh sẽ lưu lại đây để cho con cháu chúng ta hiểu rơ hơn niềm bi thương của đất nước, chỉ cho các em bọn bán nước hiện đại là ai. Để rồi không c̣n ngày phải tôn thờ h́nh Hồ-Mao và màu cờ máu chỉ c̣n là một kỷ niệm buồn. Rất buồn!
    Hăy xác tin rằng: “Nước Việt của em từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau” là măi măi!

Chương I
NHỮNG H̀NH ẢNH LỊCH SỬ

Trong chương này, việc sắp đặt h́nh ảnh về Ải Nam Quan sẽ dựa theo sự thay đổi của lối kiến trúc v.v. mà phân chia thành các nhóm h́nh theo kư tự A,B,C…Để sự diễn tả rơ ràng hơn, những h́nh ảnh bên phía Trung Cộng (hoặc Trung Quốc theo thời đại) sẽ gọi là “Trấn Nam Quan” “Mục Nam Quan” v.v…; ngược lại, nhũng h́nh ảnh bên phía Việt Nam sẽ gọi là Ải Nam Quan hoặc cổng Nam Quan theo đúng tinh thần lịch sử. Phân chia như sau.
- Nhóm A: họa đồ “Trấn Nam Quan” của Trung Quốc (đánh số A1 đến A4)
- Nhóm B: có chung kiến trúc (đánh số B1 đến B4)
- Nhóm C: có chung kiến trúc (đánh số C1 đến C4)
- Nhóm D: có chung kiến trúc (đánh số D1 đến D2)
- Nhóm E: không xác định (E1 đến E3)
- Nhóm F: h́nh quân sự và bản đồ (đánh số F1 đến F6)
- Nhóm Phụ ảnh: Một số phụ ảnh bất định sẽ đưa trực tiếp vào nơi h́nh cần thêm minh họa.

Diễn tả
1, Nhóm h́nh A:
Trước hết, ta có hai bức họa theo lối sơn thủy về h́nh ảnh “Trấn Nam Quan” trong đời nhà Thanh (Trung Quốc). Niên đại của cả hai được cho rằng họa vào đời vua Ung Chính khi xảy ra cuộc chiến Trung-Pháp (1884-1885)

 

A1. “Trấn Nam Quan Bổ Pḥng Đồ” (1)

C̣n gọi là “Thanh Quân Trấn Nam Quan Bổ Pḥng Đồ” (Họa đồ bố trí pḥng thủ Trấn Nam Quan của quân Thanh). Đây là bức họa các vị trí đóng quân của nhà Thanh nơi Trấn Nam Quan bên trong nội địa Trung Quốc. Địa h́nh đồi núi khái lược. Cổng ra vào với Ải Nam Quan của Việt Nam nằm tại cạnh phải của bức họa (có đóng khung).

A2. “Trấn Nam Quan Bổ Pḥng Đồ” (2)

Các vị trí đóng quân của nhà Thanh nh́n từ hướng Việt Nam. Không hiểu tại sao bố cục của bức họa này lại rất giống với bố cục trên bưu ảnh (tham khảo h́nh B1) do người Pháp chụp vào đầu TK20 (hoặc cuối TK19?) . Có thể bức họa này dựa theo tài liệu của người Pháp mà vẽ ra. Giá trị của bức họa này so với bưu ảnh (B1) là do sự quan sát của người Trung Quốc vào thời đại cũ nên ta thấy được kiến trúc nguyên thủy của Ải Nam Quan bên phía Việt Nam. Ta thấy có một cổng lớn, hai bên cổng là hai dăy tường thành dâng cao nhưng bị cắt ở hai bên lưng núi. Một khoảng sau cổng mới đến phần cổng có mái ngói. Từ phần cổng mái ngói này có dăy tường thành chạy dài lên đỉnh núi. Đó là phần Trung Quốc. Các điểm này tương xứng với bưu ảnh (B1).

A3. “Trấn Nam Quan Đại Chiến”

Minh họa cảnh giao chiến giữa quân Pháp và quân Thanh tại cổng Nam Quan vào năm 1885. Niên đại của bức họa không rơ nhưng ta thấy tường thành có kiến trúc giống cổng Ải Nam Quan của h́nh A2.

A4. “Trấn Nam Quan Đại Lâu Đồ”

Mô tả cảnh quân Pháp rút quân và binh lực quân Thanh tại Trấn Nam Quan. Hăy quan sát vị trí cổng theo khung hướng dẫn trong h́nh.

 

2, Nhóm h́nh B:
Bưu thiếp (Carte Postale) phong cảnh Ải Nam Quan do người Pháp thực hiện vào đầu thế kỷ 20. Các nhật ấn sưu tầm được trên bưu thiếp sử dụng từ năm 1908-1912.

 

B1. Ải Nam Quan nh́n từ độ cao ở Đồng Đăng

Vẫn dựa theo tường thành phía Việt Nam là hai đoạn ngắn nhưng phần cổng đă thay đổi thành cổng nhỏ. Phía Trung Quốc là cổng lớn và cao hơn, thiết kế hai mái ngói và tường thành chạy dài lên núi giống các bức họa đă nêu trên. Có lẽ sau giao tranh vào năm 1885. Cổng phía Việt Nam đă bị phá hủy nên được xây lại không c̣n qui mô như xưa.
Khoảng trống đến phần cổng phía Trung Quốc là vùng cảnh giới của hai bên v́ dựa theo h́nh phía bên Trung Quốc ta sẽ thấy có sự đối xứng (tham khảo nhóm h́nh C).

Phụ ảnh:(B1) Ảnh màu để xác nhận hai phần mái ngói đỏ.


B2. Ải Nam Quan nh́n từ hướng Đồng Đăng

Ta nhận thấy sự cao thấp của hai phía cổng và cánh phải của tường thành phía Việt nam cũng dừng ở ngang núi theo như họa đồ Trung Quốc (A1). Ở góc phải phía dưới h́nh là một ụ trắng phủ cỏ xanh, dấu tích lô cốt của quân đội Pháp (tham khảo h́nh F1 sẽ thấy rơ vị trí lô cốt nh́n từ bên Trung Quốc).

B3. Bang giao tại Ải Nam Quan

Quan sát các nhân vật trong h́nh, ta thấy ở cạnh trái có binh lính Việt Nam đứng thành hàng dài. Giữa cổng đi ra là hàng phu khiêng kiệu đội nón vải rộng vành của quân nhà Thanh (chở quan viên?). Ở cạnh phải của h́nh có những người nhà Thanh đội nón và kết tóc đuôi sam. Có lẽ đang diễn ra một sự kiện nào đó trong lịch sử bang giao tại Ải Nam Quan.

B4. Cổng Ải Nam Quan

Cổng đóng then gài, cỏ mọc cao ngất ngưỡng. Hoang tạnh. Trong lời nhắn trên bưu thiếp cho ta biết cổng được tu phục vào năm 1908. Nhật ấn “Lạng Sơn”. Xác nhận bờ tường thành chỉ c̣n dấu thang bậc đi lên để so sánh với tường thành phía bên Trung Quốc (nhóm h́nh C).
Phụ ảnh: Đường lên Ải Nam Quan từ Đồng Đăng

 

3, Nhóm h́nh C

 

C1. Trấn Nam Quan (1)

Nh́n từ bên Trung Quốc. Kiến trúc ở đây đă khác. Phần mái ngói lớn phía dưới đă mất, chỉ c̣n lại phần mái ngói bên trên và cấu trúc mái cũng khác. Chỉ có dăy tường thành là vẫn chạy dài lên trên. Cạnh trái trên đỉnh núi có doanh trại. Phía dưới trước mặt cổng có cụm nhà ngói. Kiến trúc thay đổi có lẽ do sự phá hủy trong cuộc “Khởi nghĩa Trấn Nam Quan” do Tôn Trung Sơn lănh đạo vào năm 1907. Để dễ phân biệt với nhóm h́nh chụp từ phía Việt Nam ta sẽ quan sát thêm sự khác nhau của địa h́nh đồi núi.

C2. Trấn Nam Quan (2)

Mặt bằng của Trấn Nam Quan. Bờ tường thành chia theo lô khác với h́nh thang bậc bên phía Việt Nam. Ta thấy rơ bên phía Trung Quốc cũng có khoảng cách so với cổng lớn (Quan). Một án tường trắng đối diện cổng là theo lối phong thủy ngày xưa tránh sự ḍm ngó thẳng vào nhà ḿnh từ phía bên ngoài (ngay trong các kiến trúc cổ của Việt Nam từ đ́nh làng đến lăng miếu ta sẽ nhận ra điểm này). Theo sử liệu Trung Cộng, cụm nhà nhỏ phía trước cổng lớn (nơi có hai nhân vật áo trắng đang đứng) là miếu thờ Quan Công gọi là Quan Đế Miếu và Đền Chiêu Trung. Sau đó vào năm 1896 trong chương tŕnh khảo sát biên giới giữa Trung-Pháp đă xây trên nền này một văn pḥng quản lư cùng với 9 điểm khác trên biên giới Trung-Việt. Năm 1914 xây lại lần hai thành kiến trúc nhà lầu kiểu Pháp nên c̣n gọi là “Pháp Lầu” hoặc “Pháp Quốc Lầu” vẫn c̣n tồn tại cho đến nay.

C3. Toàn cảnh Trấn Nam Quan

Có một khu trại và hai dăy nhà mái lá cách xa với cổng lớn ở cạnh tâm phải của h́nh. “Trấn Nam Quan” là đây! Khởi nghĩa Tôn Trung Sơn là đây! Khu di tích này giờ chỉ c̣n là ruộng nước, gọi là “khu di chỉ Trấn Nam Quan Khởi Nghĩa”. Các khung trong h́nh dùng để xác định vị trí so với h́nh C4.

C4. Trấn Nam Quan (3)

Trên bưu thiếp có tiêu đề “NAM QUAN (Chine) – Le Village” rơ ràng đây là khu làng mạc (Trấn) trong đất Trung Quốc. So sánh các khung vị trí với h́nh C3:
Dăy nhà lá và con đường đất ở giữa, trước mặt là cụm nhà ngói và tán cây. Ngang ở tâm trái của h́nh là bờ tường thành. Phía góc phải là vách núi đá (đá vôi?) trắng.
Chữ “Trấn” trong văn tự trung Quốc có rất nhiều nghĩa, như “trấn giữ”, “trấn áp”, “trấn tĩnh”, “trấn địa”…v.v. đều là chỉ việc ǵn giữ, ổn định. “Trấn” c̣n là một đơn vị hành chính sau cấp huyện có từ thời xưa tại Trung Quốc (đơn vị hành chính Việt Nam thời xưa cũng thường sử dụng). Trong một số sử sách Việt Nam có nói “Trấn Nam Quan” nằm trong nội địa Trung Quốc. Th́ đây, “Trấn Nam Quan” đă xác định là những h́nh này! Khối nhà lợp mái ngói ta sẽ hiểu là khu nhà quan binh, hai dăy nhà lá là khu dân cư dựa theo binh đội để có cuộc sinh hoạt yên b́nh. “Trấn” là khu phố nhỏ, làng mạc. Đừng làm lệch lạc lịch sử và đừng theo luận điệu của bọn bán nước mà cho rằng “Ải Nam Quan phải gọi là Bắc Quan”. Chữ “Nam Quan” là do Trung Quốc kiêng kỵ Việt Nam nên không muốn gọi là “Đại Nam Quan” mà thôi. Chữ “Quan” là chiếc cổng qua lại. “Đại Nam Quan” hay “Nam Quan” là cửa ngơ giao thiệp với nước Việt Nam. Hai bên đă thủ lễ với nhau bằng khoảng trống ở hai bên cổng lớn. Theo sử liệu, sau chiến tranh Trung-Pháp th́ nhà Thanh đă chiếm giữ cổng lớn và buộc phía Việt nam phải cách xa cổng là 100 thước. Việc này ta thấy tương đương với khoảng cách của hai cổng trong nhóm h́nh B.

 

4, Nhóm h́nh D

 

D1. Cổng Nam Quan (1)

Đây là một kiến trúc khác hẳn so với các nhóm h́nh trên. Có vẻ sơ sài v́ đă mất hẳn phần kiến trúc phía trên trong cuộc nội chiến tại Trung Cộng vào năm 1949. Ta thấy có dáng một nhân vật đang cầm súng. Tiêu đề trên bưu thiếp “NAM QUAN (Tonkin)…” đây là bên phía Việt Nam khi qua cổng nhỏ để đứng sát với cổng lớn (vào lúc này có lẽ kiến trúc cổng nhỏ cũng đă mất). Theo sử liệu Trung Cộng, trong cuộc giao tranh vào năm 1949 th́ toàn bộ phần trên cổng đă bị phá hoại hoàn toàn (tham khảo h́nh E2).

D2. Cổng Nam Quan (2)
 

H́nh đăng trên tạp chí “National Geographic” do GS Nguyễn Văn Canh đưa lên mạng và không rơ niên đại. Một số bạn nghi ngờ bức ảnh này không chính xác với h́nh ảnh của Ải Nam Quan. Tuy nhiên so sánh với h́nh D1, ta đă thấy kiến trúc cùng kiểu của hai h́nh. Tại đây, dăy tường thành chạy lên cao đến vách núi trắng tương ứng với h́nh C3-C4, có thể xác định là h́nh được chụp từ cao điểm bên phía Việt Nam.

 

5, Nhóm h́nh E

 

E1. Không xác định (1)

Một h́nh ngôi chùa trên đường đi Long Châu nơi có cổng giao thiệp với Việt Nam là B́nh Nhi Quan. Cùng với Nam Quan và B́nh Nhi Quan c̣n có Thủy Khẩu Quan là 3 cổng quan yếu để vào đất Việt Nam nên gọi chung là “Tam Quan”, có khi cổng Nam Quan c̣n gọi là riêng là “Tam Quan” do ở vị trí quan trọng hàng đầu so với hai cổng B́nh Nhi-Thủy Khẩu. Nơi h́nh này có tiêu đề “Chine - NAM QUAN – Loc Hang Thiap”. Chưa rơ chữ “Loc Hang Thiap” là ǵ nhưng h́nh xác định là Nam Quan trên đất Trung Quốc, có phải là một ngôi chùa trong “Trấn Nam Quan” hay không? Hay là thuộc Trấn B́nh Nhi Quan?

E2. Không xác định (2)

Quân đội Trung Cộng đứng trên tường thành giương cờ trong cuộc chiến thắng quân Tưởng Giới Thạch vào ngày 11.12.1949 tuyên bố giải phóng Quảng Tây. Thế tường thấp với cổng và trên mặt tường cổng có chữ “Trấn Nam Quan”.
Phụ ảnh E2: H́nh chụp chính diện của Trấn Nam Quan trong ngày giải phóng Quảng Tây tháng 12.1949. Trên mặt tường cổng thành ta thấy rơ chữ “Trấn Nam Quan”. (pḥng trưng bầy lịch sử Hữu Nghị Quan)

E3. Không xác định (3)

Quân đội Trung Cộng đứng trước cổng nhỏ có khắc chữ “Trấn Nam Quan”. Không rơ niên đại của h́nh. Chung với h́nh E2, có lẽ đây là “Trấn Nam Quan” mà tôi đă giải thích (mục 3, nhóm h́nh C).

 

6, Nhóm h́nh F

 

F1. Toàn cảnh Ải Nam Quan

Do trinh sát quân Nhật Bản chụp vào tháng 6 năm 1940 trước khi tiến hành “cuộc chiến 3 ngày” nhằm đạt mục đích đưa quân vào lănh thổ Đông Dương. H́nh được mô tả: “…thấy được đường xe lửa Lao Cai-Côn Minh. Lại có đường xe ô-tô từ Đồng Đăng lên tận Trấn Nam Quan. Bờ tường thành này bên trong là đất Trung Quốc, ngay bên ngoài là Bắc bộ Đông Dương”.
Từ cao điểm như trong h́nh ta thấy rơ vị trí lô cốt như đă xem qua h́nh B2. Có khả năng lô cốt đă xây dựng trên một nền kiến trúc cổ xưa của Việt Nam . Và c̣n “Suối Phi Khanh” nơi thấm lệ của Nguyễn Trăi, có ai nhận ra chưa?…Nước mắt!

Phụ ảnh F1: Liên quân Pháp-Việt (trường Sĩ quan Đồng Đăng)

Những người bảo vệ Ải Nam Quan thất thủ trước quân Nhật (25.09.1940)

F2. Cột Mốc Số 18

Do quân đội Nhật Bản chụp tháng 7 năm 1940 ngay tại tường thành Trấn Nam Quan. Cột mốc số 18 lịch sử xác định biên giới Trung-Việt vào năm 1887. Xác định lănh thổ bảo hộ của thực dân Pháp tại Đông Dương và cũng là khởi điểm Nam tiến của quân đội Thiên Hoàng giao tranh với các nước Châu Âu.
Trên Cột mốc số 18 ta đọc được: “Trung Việt Quốc Giới, Trấn Nam Quan Ngoại, Đệ Thập Bát Hiệu - No.18 FRONTIERE”

F3. Bản đồ vị trí Trấn Nam Quan và cột mốc số 18

Do chính quyền Tưởng Giới Thạch họa vào năm Dân Quốc 13 (1925). Khu vực Trấn Nam Quan và cột mốc số 18 (có đóng khung)

F4. Hữu Nghị Quan
(tên gọi cổng Nam Quan do Trung Cộng đặt ra vào năm 1965)

Đây là một bằng chứng sống động nhất cho kết qủa “bác cháu ta cùng giữ nước” trong thời cộng sản cầm quyền tại Việt Nam. Ảnh do cựu chiến binh Trung Cộng (tham gia chiến tranh biên giới Trung-Việt 1979) chụp vào năm 2005. Các vạch và khung đánh dẩu trên ảnh là của tác giả ảnh và được giải thích như sau.
“H́nh trên là từ trên núi Kim Kê chụp xuống. Bên trái là Hữu Nghị Quan, ṿng tṛn màu vàng là cao điểm tranh chấp Trung-Việt, hiện thời do quân ta khống chế; Vùng màu xanh lá cây h́nh tam giác là khu vực gài địa lôi. Vạch dài màu tím là con đường sắt qua lại với Đồng Đăng. Vùng trắng giữa h́nh có hai cửa đường hầm là điểm cuối của cao tốc Nam Ninh đến Bằng Tường”
Nguyên văn:
上图]这是在金鸡山上往下拍的。左侧是友谊关,黄圈部分为中越有争议的高地,目前为我军控制;草绿色的三角为雷区 ,蓝线是通往同登的铁路。图片中间灰白处有两个遂道洞口为南宁至凭祥高速公路的终点站。
Tham khảo tại đây:
http://military.china.com/zh_cn/hist...2461442_1.html
Tôi xin thuyết minh thêm. Núi Kim Kê là cao điểm chiến lược nằm ở cánh trái cổng Nam Quan, ngay vị trí chụp ảnh của tên cựu chiến binh này chính là đất Việt Nam. Khu vực tam giác trong h́nh chính là khu vực của cột cây số Km0 của Việt Nam là nơi mà vào đầu tháng 7.2007, phía Trung Cộng đă tuyên bố hoàn tất gỡ bỏ tấm đạn địa lôi (ḿn) cuối cùng, bảo đảm thông thương an toàn cho “vùng Hữu Nghị, Ḥa b́nh vạn tuế!”. Trong các h́nh ảnh của chương tiếp theo ta sẽ rơ hơn về vị trí này. Ở đây ta đă có khái niệm về việc Ải Nam Quan đă mất trong cự ly ra sao! Việc mất lănh thổ qủa là nghiêm trọng! không phải là 100m, 150m, hoặc 200m. Cự ly trong h́nh có thể tính bằng Km! Hai lỗ đen gần giữa tâm h́nh là đường ra vào của cao tốc Nam-Hữu (Nam Ninh-Hữu Nghị Quan với chiều dài 179.2 Km. Nam Hữu khởi công vào ngày 28.04.2003 và chính thức khai thông vào ngày 28.12.2005, cũng là đường quốc lộ số 322 của Trung Cộng với điểm tận cùng giáp với Km0 của QL1 Việt Nam. Một âm mưu mới hơn đang h́nh thành!).
Như ta thấy, cả một vùng đồi núi của Việt Nam đă bị Trung Cộng ngang nhiên san bằng và xây dựng công tŕnh trong nhiều năm, vẫn không hề có một chút phản ứng nào của bọn cầm quyền CSVN. Hay nói đúng hơn là đă có một sự thỏa thuận nhượng Ải Nam Quan từ hàng chục năm trước?

F5. Ảnh chụp vệ tinh vị trí của Hữu Nghị Quan

Khu vực Hữu Nghị Quan (đóng khung) so với đường biên giới Trung-Việt màu vàng. Ảnh do cựu chiến binh Trung Cộng thiết kế để mô tả lại chiến trận biên giới Trung-việt năm 1979. Lúc này, Hữu Nghị Quan đă nằm sâu trong đất Trung Cộng từ đời…Hồ Chí Minh!
 

Ô NHỤC ẢI NAM QUAN!

Chương II
KẺ BÁN ẢI NAM QUAN VÀ KM ZÉRO Ô NHỤC!

Kẻ bán Ải Nam Quan là ai?
    Kẻ bán Ải Nam Quan và bán luôn cả cơ đồ dân tộc Việt Nam cho Trung Cộng chính là Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng. Máu bán nước ăn sâu vào từng đời của bọn lănh đạo CSVN. Để chứng minh rơ ràng những tội lỗi của bọn bán nước buôn dân này vẫn c̣n những h́nh ảnh làm tang chứng. Hăy tiếp tục xem…
- Giai đoạn 1938-1945, Hồ Chí Minh hoạt động “cách mạng” tại Quảng Tây.
- Năm 1945 thực hiện cướp chính quyền tại Việt Nam.
- Năm 1950 tiếp tục sang Trung Cộng mưu cầu viện trợ vũ khí lương thực kháng Pháp.

 

H́nh G1. HCM bí mật sang Quảng Tây ngày 16.01.1950


HCM bí mật sang Quảng Tây ngày 16.01.1950. HCM là người trùm khăn đứng thứ hai bên phải h́nh.

Việc qua lại giữa hai Đảng CS Trung-Việt liên tục diễn ra tại cổng Nam Quan. Tháng 10 năm 1953, Chánh Vụ Viện Trung Cộng đổi tên cổng Nam Quan thành “Mục Nam Quan” (chữ “Mục” có nghĩa là: ḥa thuận, ḥa hợp, thân mật, thân thiết…), đồng thời cả hai chính phủ Trung-Việt thành lập Ủy Ban Cửa Khẩu Mục Nam Quan. Cùng năm, thỏa thuận theo Chánh Vụ Viện Trung Cộng, Việt Nam mở cửa tự do cho hai cửa khẩu B́nh Nhi – Nam Quan. Năm 1953 đă có 276.000 lượt qua lại cổng Nam Quan giữa hai bên.

H́nh G2. HCM bang giao với TC tại cổng Nam Quan trong những năm 1950

 

 

- Tháng 2 năm 1954, hai bên chính phủ Hà Nội-Bắc Kinh soạn ra “Hiệp Định Mậu Dịch Biên Giới”.
- Ngày 26.09.1954, Hồ Chí Minh dẫn đầu đoàn đại biểu CSVN xuất phát từ cổng Nam Quan tham dự hội nghị tại Nam Ninh.
- Ngày 10.11.1954, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao VN là Phạm Văn Đồng đi từ cổng Nam Quan sang Bằng Tường tiếp tục đi Bắc Kinh ra mắt Chu Ân Lai.

H́nh G3. Phạm Văn Đồng ra mắt Chu Ân Lai

 

- Ngày 26.02.1955, khánh thành tuyến đường sắt Hà Nội-Trấn Nam Quan. Hồ Chí Minh đọc diễn văn chúc mừng tại cổng Nam Quan.

H́nh G4. HCM và CÂL yến tiệc xa hoa tại Bắc Kinh tháng 06/1955

 

- Tháng 12.1958, hai huyện Ninh Minh, Long Tân kết hợp với Bằng Tường (Trấn Bằng Tường) thành lập huyện Mục Nam.
- CSVN phản ứng! Ngày 27.04 đến 02.05.1959, Trung-Việt hội nghị vấn đề biên giới tại Bằng Tường. Ngày 10.05.1959, chính phủ Trung Cộng quyết định xóa bỏ đơn vị “huyện Mục Nam”. Ninh Minh, Long Tân , Bằng Tường trở về đơn vị hành chính cũ.
- Ngày 04.09.1959, Chu Ân Lai đáp máy bay đến Bằng Tường hội đàm cùng Hồ Chí Minh vấn đề biên giới Trung-Việt.
- Năm 1960, Phạm Văn Đồng trồng cây si để làm mốc cho Km0 của Việt Nam.

 

H́nh G5. Cây si do PVĐ trồng (???)

 

Cây si do PVĐ trồng (?) nh́n từ bên phía VN. Vị trí tương ứng với khoảng cách của tường thành cổng Nam Quan cũ bên VN

H́nh G6. Cây si PVĐ nh́n từ bên cổng Hữu Nghị Quan của TC



H́nh G7. Cây si PVĐ nh́n từ trên lầu thành Hữu Nghị Quan. Cụm nhà trắng là Hải Quan TC xây lại trên nền "nhà tṛn". Xa thẳm bên kia là cột Km0 hiện tại.

 

 

- Ngày 09.04.1961, Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh “hội đàm” tại lầu 2 của cổ thành Mục Nam Quan. “Hội đàm” về nội dung ǵ th́ cả hai bên đều không công bố. Chỉ biết rằng cuộc “hội đàm” mờ ám tại Mục Nam Quan của hai lănh đạo cộng sản Trung-Việt được viết trong sách giáo khoa của bọn Trung Cộng là “mở ra một trang sử mới cho quan hệ Trung-Việt”.

 

H́nh G8. Lầu 2 tại Mục Nam Quan với nguyên trạng cuộc "hội đàm" giữa CÂL và HCM



H́nh G9. Bảng vàng ghi lại sự kiện

 

- Ngày 05.03.1965, Quốc Vụ Viện Trung Cộng và chính phủ CSVN cử hành lễ đổi tên “Mục Nam Quan” thành “Hữu Nghị Quan”. Tham dự phía bên Việt Nam có Tổng lănh sự VN trú tại Nam Ninh và đoàn chính phủ VN đến từ Lạng Sơn.
…Và kể từ sau đó, chính phủ CSVN đă dâng trọn Ải Nam Quan cho Trung Cộng để tiếp nhận viện trợ vũ khí tiến đánh miền Nam-Việt Nam Cộng Ḥa.

H́nh G10. Hữu Nghị Quan năm 1965. Biểu ngữ của TC và h́nh Mao Trạch Đông phơi vào phần lănh thổ VN



H́nh G11. So sánh với h́nh ảnh Mục Nam Quan năm 1959. Đoàn đại biểu CSTC lễ phép chụp ảnh tại cổng Nam Quan bên phía VN



H́nh G12. Năm 1966. Công binh xây dựng đường sắt Trung-Việt tại Hữu Nghị Quan

 

Năm 1966. Công binh xây dựng đường sắt Trung-Việt tại Hữu Nghị Quan tuyên thệ trước khi vào VN làm nhiệm vụ và Thiết đạo binh: công binh đường sắt TC giả dạng bộ đội VN

H́nh G13. Năm 1966. Quân chính qui TC giả dạng bộ đội VN

 

Năm 1966. Quân chính qui TC giả dạng bộ đội VN tuyên thệ tại Hữu Nghị Quan. Hướng về TC đồng thanh hô lớn: "Quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Nguyện mang vinh quang trở về!". Trong ảnh là Sư đoàn 62 Cao Xạ TC)

H́nh G14. Tham gia tra tấn tù binh Mỹ tại VN



H́nh G15. Tham gia bắt sống phi công Mỹ tại VN. Người cầm ảnh là cựu chiến binh TC tham chiến tại VN




H́nh G16. Huy chương "Đoàn Kết Chiến Thắng Giặc Mỹ" do chính HCM kư tặng hoặc do PVĐ ban thưởng.




H́nh G17. Năm 1968, Hồ - Mao đi từ Ải Nam Quan cùng mang vũ khí vào gây tang tóc cho dân miền Nam VN


http://www.youtube.com/watch?v=ywZrFnoRg0g

H́nh G18



"Nam man! Ta cho ngươi cơm ăn, áo mặc, ta cho ngươi súng đạn, nhưng chính ngươi đă lấy súng đạn bắn vào da thịt ta!” (người anh em đồng chí TC nói!)

H́nh G19. Hoa Kiều tại Việt Nam bị cưỡng chế hồi hương năm 1978.

 

 

- Ngày 25.08.1978, khoảng trên 200 quân Việt Nam dùng vũ lực bắt buộc Hoa kiều phải hồi hương đi vào khu vực Hữu Nghị Quan. Lúc 17g30 cùng ngày, ngay trước cổng Hữu Nghị Quan, quân Việt Nam đánh chết 6 người, 82 người bị thương, 15 người chạy thoát. Công tác viên phía Trung Cộng lên tiếng cảnh cáo và xung đột đă xảy ra giữa hai bên cán bộ Trung-Việt. Ba ngày sau, quân Việt Nam tiếp tục tràn lên vùng biên giới t́m kiếm những Hoa kiều đang bỏ trốn… Chiến tranh biên giới Trung-Việt bắt đầu từ đây, cuộc chiến mà Trung Cộng lấy cớ “tự hào” là “Tự Vệ Phản Kích”. Ải Nam Quan thêm một lần nữa chứng kiến xung đột Trung-Việt. Nhưng từ sau cuộc chiến này, Trung Cộng đă đẩy lui lănh thổ Việt Nam ra khỏi Ải Nam Quan và bỗng xuất hiện cột mốc có tên gọi “Km0” thần thoại, nằm cách xa cổng Nam Quan hàng trăm thước.

 

H́nh G20. Dấu đạn giao tranh Trung-Việt trên khắp tường thành "Hữu Nghị Quan"



H́nh G21. Trung Cộng ca khúc khải hoàn trở về cổng Hữu Nghị Quan sau chiến thắng



H́nh G22. Trao trả tù binh



 

 

- Ngày 28.05.1980, Trung-Việt tiến hành trao trả tù binh tại "Km0" trên đường Đồng Đăng dẫn vào khu vực Hữu Nghị Quan

 

H́nh G23. Phụ ảnh tham khảo "Cột Mốc Số 18" giả mạo (?)


Đây là "Cột Mốc Số 18" mà TC cho rằng đă đặt tại cổng Nam Quan. Khác với "Cột Mốc Số 18" theo Hiệp ước Pháp-Thanh (đă tŕnh bầy nơi chương I). Trên cột mốc này khắc rằng: "BORNE.18 ANNAM-CHINE, Đệ Thập Bát Bài, Đại Pháp Quốc Việt Nam, Đại Trung Hoa Dân Quốc Vân Nam". Lịch sử nào ghi rằng Pháp thay mặt VN kư kết Hiệp ước Biên giới với chính quyền của Tưởng Giới Thạch? Loại cột mốc này là cùng kiểu với cột mốc số 53 tại khu vực Thác Bản Giốc. Những cột mốc thật sự của Hiệp ước Pháp-Thanh đă tiêu biến nơi đâu ? Không ai biết rơ hơn biên giới Trung-Việt bằng Đảng CSVN, nhưng họ có nói ǵ không về hiện tượng này? Lặng câm! Ta nên nhớ, trong đề cương của Đảng CSVN do HCM soạn ra vào năm 1940 đă chủ trương một cách mù quáng: "Không công nhận bất cứ văn kiện, hiệp ước nào của thực dân Pháp thay mặt VN kư kết với quốc gia khác!"
Sự ra đời của “Km 0” cho đến nay vẫn rất khó hiểu. Theo “truyền thuyết”, “Km 0” ra đời vào năm 1960 và Phạm Văn Đồng đă trồng cây si để đánh dấu vị trí. Có thực sự là PVĐ trồng cây si để đánh dấu vị trí biên giới Trung-Việt hay không? Hay chỉ đơn thuần là việc trồng cây kỷ niệm một sự kiện nào đó? (thói màu mè của CSVN). Năm 1958, chính tay PVĐ đă kư văn bản dâng biển cho Trung Cộng, bản đồ Bắc Việt th́ Đảng CSVN dâng cho Trung Cộng vẽ, trong thời điểm lệ thuộc sự viện trợ của Trung Cộng th́ làm sao nói chuyện căng thẳng biên giới, lănh hải được. C̣n cây si là cây si nào? Cây si thuộc loại cây nhiệt đới có sức tăng trưởng và phát tán rất nhanh. Không thể nào cho rằng cây si mà PVĐ trồng là cây si đứng sau cột “Km0”. Hăy xem h́nh (so sánh với cây si trước cổng HNQ ở chương II).

H́nh G24



Năm 1979, hai tên Trung Cộng đang chỉ vào vị trí cột mốc “Km0”. Cỏ cây rậm ŕ, một gốc cây nhỏ phía sau (cây si từ năm 1960?). Phải chăng vị trí cột mốc chẳng phải bị di dời đi hàng trăm thước nào cả. Nó đă nằm đó từ những năm 1960, như một thỏa thuận “hữu nghị” khi HCM dành trọn Ải Nam Quan để tiếp nhận vũ khí của TC gây máu lửa trên miền Nam Việt.

H́nh G25. "Km0" trong những năm 1990. Biên pḥng VN đứng gác nhưng quay mặt về phía VN. Đáng nể!



H́nh G26. "Km0"


"Km0" trong những năm đầu 2000, khi đang xây dựng lại cảnh quan "Hữu Nghị" và kế hoạch cao tốc Nam-Hữu . Lúc này trên cột c̣n ghi "Hữu Nghị Quan" và "cây si PVĐ" c̣n đó

H́nh G27. "Km0" mất chữ Quan


"Cây si PVĐ" bị đốn bỏ dă man vào năm 2005. Cột mốc cũng chỉ c̣n chữ "Hữu Nghị". Đảng CSVN không dám nhận thêm chữ "Quan". Xóa bỏ vĩnh viễn lịch sử để làm vừa ḷng đàn anh TC!

H́nh G28


"Km0" của VN trơ trọi so sánh với bia đá "Nam Cương Quốc Môn" của Trung Cộng phía sau . Ở vị trí này ta không c̣n thấy cổng Nam Quan!

H́nh G29


"Km0" trong những ngày năm 2006. Hành lang trắng bên tay phải dẫn vào khu vực Hải quan TC.

H́nh G30



Nh́n sang bên phải để thấy rơ hơn cổng đường hầm cao tốc Nam-Hữu và Cổng kiểm soát của Hải quan TC.

H́nh G31



Ngang với "Km0" là giao điểm Quốc lộ 322 (điểm cuối) của TC và Quốc lộ 1A (điểm khởi đầu) của VN!
"Trung Quốc Quốc Đạo 322 Chung Kết Điểm"

H́nh G32


Nh́n sang VN. Đi thêm khoảng 100m nữa mới tới Cổng kiểm soát của Hải quan VN. Khoảng cách "thủ lễ" đă xuống dưới chân Ải Nam Quan trong thời cộng sản. Không c̣n nằm trước mặt cổng Nam Quan như ngày xa xưa. Đúng vậy! Ải Nam Quan nào là của VN? Bọn Ô nhục!
 Hàng trăm thước đất của Ải Nam Quan là cả một đoạn đường dài hàng ngàn năm lịch sử của Việt Nam, nơi mà tổ tiên Trung Cộng phải bao lần cay đắng nuốt hận…Đất biển tổ tiên mất qúa dễ dàng! Đảng CSVN vẫn một mực nói như Trung Cộng, công nhận lănh thổ bắt đầu từ cột “Km0”. Đảng CSVN đă chà đạp lên hồn thiêng sông núi, thay ngọai bang thảm sát dân tộc, giết chết lịch sử quê hương!

H́nh G33. Vẫn cười đấy! Hèn mọn, bé nhỏ là thế!


Ngày 18.10.2005, Việt cộng TT Nguyễn Tấn Dũng ra đón khách Trung Cộng ngay tại Km0. Ôi, tư cách của một TT? Hai tay xun xoe chào đón quan thầy Trung Cộng. Không ai trong đám cộng sản thời đại này c̣n "bản lĩnh" đi qua lại Cổng Nam Quan để đón khách như Hồ Chí Minh của những năm 1950. Vẫn cười đấy! Hèn mọn, bé nhỏ là thế!

H́nh G34



Ngày 28.12.2005, cao tốc Nam Hữu chính thức khai thông nối vào khởi điểm Quốc lộ 1A của Việt Nam

H́nh G35



Những người dân quê Đồng Đăng bị bắt đứng ra chụp h́nh ngay tại giao giới biên cảnh Trung-Việt. Họ đứng trên khởi điểm của QL 1A như làm nhân chứng cho lịch sử bán nước của Đảng CSVN. Những khuôn mặt muộn phiền, ngơ ngác.

H́nh G36


Ngay cả những đứa bé Trung Cộng mù ḷa cũng được nắm tay cho sờ vào thành tích của cha ông chúng!
C̣n người Việt Nam? Có ai dám cảm tử cầm máy ảnh ra chụp tại khu vực này hay không? Thi nhân Bùi Minh Quốc bị cấm cố v́ tấm h́nh ôm cột mốc Trung-Viêt. Nhà báo Điếu Cày có mấy tấm chụp tại Thác Bản Giốc mà giờ c̣n nằm trong Chí Ḥa. Và tôi cũng từng bị biên pḥng VN hành hung khi tay lăm le chiếc máy ảnh nơi vùng biên cảnh "Hữu Nghị"!

H́nh G37



Khách du lịch Trung Cộng thảnh thơi qua lại, nhàn nhă như ở nhà. Chụp h́nh ư? Chuyện nhỏ! Đố tên biên pḥng VN nào dám làm khó dễ!

H́nh G38



Bước một bước là qua đến VN! Hai con xẩm trong góc có khung là vị trí của Km0 Ô nhục!

H́nh G39



Đứng hai chân trên biên giới!

H́nh G40



Và ngồi lên "Km0" của bọn Nam man! Chúng ta là chủ nhân của lănh thổ VN!

H́nh G41



Hải quan hai bên Trung-Việt trao đổi công tác tại Km0 (tháng 04.2007)

H́nh G42



Những hoạt động của Trung Cộng tại Ải Nam Quan ngày càng rầm rộ, hoành tráng. Từng đợt học sinh trên các miền được đưa về Hữu Nghị Quan để nghe giáo dục về ḷng yêu nước!  "Tổ Quốc Tại Ngă Tâm Trung" (Tổ quốc trong tim ta)

H́nh G43


Cựu chiến binh trong chiến trận biên giới Trung-Việt hành hương

Thế hệ nào của Việt Nam sẽ được tường tận sự ô nhục này. Việc đ̣i hỏi Trung Cộng trả lại vùng đất thiêng của tổ quốc Việt Nam không phải dễ dàng! Sẽ lại đổ máu như hàng trăm năm trước!

H́nh G44

 

Tháng 11 năm 2007, kỷ niệm 50 năm thành lập khu tự trị Quảng Tây. Có cả đại biểu VN tham dự, ngồi trên mảnh đất tổ tiên bị ngoại bang xâm chiếm không biết họ nghĩ gi? Hay là họ vẫn cười?
Vận động trong sạch môi trường biên cảnh Trung-Việt. Bản đồ VN đă nối vào khu tự trị Quảng Tây!

 

...Và rất nhiều h́nh ảnh khác nữa nhưng tôi sẽ tiếp tục dành cho "Chương III: Du lịch Hữu Nghị Quan"

Phi Khanh hỡi! Người c̣n ngồi nói những lời xưa?
"Con yêu hỡi chớ xuôi ḷng mềm yếu!..."

[Trở lại Chương 1]

Chân Mây

(Tài liệu Sưu tầm trên Net....)