Hồn Thiêng Sông Núi

Hồn Thiêng Sông Núi

 (Nhạc nền: "Mẹ Việt Nam Ơi Chúng Con Vẫn C̣n Đây")

 

Hà Giang, cực Bắc Việt Nam,

Cột Cờ Lũng Cú(1) hiên ngang giữa trời.

Da Vàng, Máu Đỏ sáng ngời,

Hồn Thiêng Sông Núi (1)  muôn đời Hùng Anh…!!!

Lư Thường (2) một thuở tung hoành;

Đánh quân Hán tặc, chạy xanh mặt mày…!

Dựng Cờ chính nghĩa nơi đây;

Giữ ǵn Bờ Cơi tṛn đầy Nước Nam…!

Dạy cho Hán cẩu  gian tham,

Đừng ḥng lấn chiếm Việ Nam kiêu hùng…!

Vua, Quan… xưa ; giáo mác, đao, cung (cung tên)

Tổ Tiên Lạc-Việt, vẫy vùng bốn phương…!

Ngày nay con cháu phi thường;

Siêu thanh, hỏa tiễn… tinh tường hàng không (3)…!  

B́nh hùng, Tướng dũng… một ḷng;

Phá đập Tam HiệP (4) ; tiêu vong giặc Tàu…!!!

Toàn Dân cương quyết cùng nhau;

Đồng tâm hiệp lực… diệt Tàu xâm lăng (5) …!

 

Joseph Duy Tâm

GHI CHÚ:---------------------------------------------------------------------------------------

(1)   Cột Cờ Lũng Cú với Cờ Vàng 3 Ḍng Máu Đỏ. (3 Miền: Bắc, Trung, Nam)

(2)    Lư Thường Kiệt, Danh Tướng phục vụ 3 Triều Vua: Lư Thái Tông, Lư ThánhTông, và Lư Nhân Tông… đă đánh cho Quân Tống đại bại nhiều phen…và đă dơng dạc tuyên bố “Tuyên Ngôn Độc Lập”:       

Nam quốc sơn hà:

 

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

 

Lư Thường Kiệt

 

Bản dịch:

Sông núi nước Nam

 

Sông núi nước Nam, vua Nam ở,

Rành rạch định phận tại sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm

Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời

 

 

(3)   Phi cơ siêu thanh, Hoả Tiễn đia đạo, Hàng không mẫu hạm.

(4)    Đập Tam Hiệp (Trung văn giản thể: 长江三峡大坝; phồn thể: 長江三峡大壩; bính âm: Chángjiāng Sānxiá Dàbà; Hán-Việt: Trường Giang Tam Hiệp đại bá) chặn Trường Giang (sông dài thứ ba trên thế giới) tại Tam Đẩu B́nh, Nghi Xương, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Việc xây dựng bắt đầu vào năm 1994. Nó là đập thủy điện lớn nhất thế giới. Hồ chứa nước của nó đă bắt đầu có nước vào ngày 1 tháng 6 năm 2003, và sẽ chiếm toàn bộ vị trí hiện tại của khu vực Tam Hiệp thơ mộng, nằm giữa các thành phố Nghi Xương (tỉnh Hồ Bắc) và Bồi Lăng (thành phố Trùng Khánh).(S ưu t ầm tr ên net…)

(5)    Nếu Trung Cộng không từ bỏ mộng xâm lăng Việt nNam; Th́ trong t́nh thần tự vệ, để bảo toàn Lănh Thổ Việt Nam và Dân Tộc Lạc Hồng…Toàn Quân Dân Việt Nam bắt buộc phải đánh trả…cho dù phải hy sinh tính mạng và tài sản đi nữa. Yếu đ́ểm chiến lược mà bọn Tàu Cộng sợ bị tấn công nhất đó là Đập Tam Hiệp! Việt Nam ta gay từ bây giờ, phải dồn mọi nỗ lực để có được các giàn Hỏa Tiển Đạn Đạo (Liên lục địa), Phản Lực Cơ Siêu Thanh, hay Tàng H́nh, ngay cả Pháo Đài Bay B52… Chỉ cần phá hủy được Đập Tam Hiệp, là Tầu Cộng phải đầu hàng ngay. Mặc dù hậu qủa của sự tàn phá rất là khủng khiếp về mọi phương diên… và cũng phần nào liên hệ đến Việt Nam chúng ta; qua ngă sông Hồng Hà…! Biết rỏ phải hy sinh như vậy; nên chúng ta cần có phương án di tản Đồng Bào khi  chiến tranh xẩy ra. Một Triết Gia Tây Phương nói: “Muốn có Ḥa B́nh, phải chuẩn bị Chiến Tranh…” (Xin lỗi Quư Vị, Tôi quên Tên Tác Giả).

 

***************************************************************************************

Tài Liệu Tham Khảo:

 

 

Biên giới Việt-Trung - vùng Quảng Đông - Hải Ninh - theo các công ước Pháp-Thanh về biên giới 1887-1895.


Nguyên nhân Việt Nam mất huyện Giang B́nh và đất thuộc hai tổng Kiến Duyên và Bát Tràng thuộc tỉnh Hải Ninh.

Vào thời Pháp thuộc, tỉnh Hải Ninh, tức Quảng Ninh hiện nay (xưa là Quảng Yên), có chung biên giới với huyện Khâm Châu , phủ Liêm Châu, thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc (chứ không phải là tỉnh Quảng Tây như hiện nay). Đường biên giới lịch sử này, ngoại trừ ở một số địa điểm cụ thể đă được dân chúng hai nước Việt-Trung công nhận, như các cửa ải, con sông, ngọn núi… phần lớn chiều dài c̣n lại của nó th́ chưa bao giờ được xác định rơ rệt. Chỉ sau khi toàn cơi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, năm 1884, đường biên giới lịch sử này mới trở thành đường biên giới qui ước, có giá trị pháp lư. Đó là nhờ ở các công tŕnh phân định biên giới giữa nhà nước thực dân Pháp và triều đ́nh nhà Thanh, qua hai công ước Phân định biên giới năm 1887 và công ước bổ túc về biên giới năm 1895. Công tŕnh phân định , phân giới và cắm mốc phải mất 12 năm, từ năm 1885 đến năm 1897.

Đây là đoạn biên giới ngắn nhất, nhưng đă gây nhiều tranh chấp nhất, giữa Pháp và nhà Thanh trong thời gian phân định (từ tháng 12 năm 1886 đến tháng 6 năm 1887) cũng như trong thời kỳ phân giới (do hai ủy-ban : 1889-1890 và 1893-1894). Ông Chiniac de Labastide, chủ tịch Ủy ban Phân Giới phụ trách vùng Quảng Đông (tức đoạn 1) nhiệm kỳ 1889-1890 viết :

« Khi các ủy ban Pháp và Thanh được thành lập vào các năm 1886 và 1887 để phân định biên giới hai nước An Nam và Trung Hoa, đoạn biên giới đă có những cuộc thương lượng dài nhất, và phe Trung Hoa đă có những đ̣i hỏi căng nhất, đó là đoạn thuộc vùng Quảng Đông. Chiều dài của đoạn biên giới này dầu vậy ngắn hơn rất nhiều so với hai vùng biên giới khác là Quảng Tây và Vân Nam. Ở hai vùng đó chỉ cần vài tháng là đủ để Ủy Ban hai nước đạt được thỏa thuận về đường biên giới, trong khi vùng Quảng Đông, phải mất đến 8 tháng để hai bên kư kết biên bản phân định…
Nhờ vào sự kiên tŕ, người Hoa đă dành được của An Nam một vùng đất nghèo, nhưng rộng lớn, mà họ chờ đợi để lấy ra từ đó những ưu điểm quan trọng. »

Đường biên giới vùng này được phân định, cắm mốc ra sao ? « Vùng đất nghèo nhưng rộng lớn » mà người Hoa đă thành công « dành » của Việt Nam mà ông Chiniac de Labastide đă nói là vùng đất nào ? Bài này sẽ tŕnh bày lại một số dữ kiện tham khảo được từ Văn Khố Hải Ngoại của Pháp (Centre des Archives d’Outre Mer – Aix-en-Provence) với tham vọng soi sáng lại lịch sử thành h́nh đường biên giới Việt-Trung, những tranh chấp về lănh thổ trong thời kỳ phân định và dĩ nhiên, về những vùng đất của Việt Nam đă bị mất cho Trung Hoa.

1/ Sơ lược quá tŕnh phân định biên giới vùng giáp ranh tỉnh Quảng Đông :

Theo điều 3 hiệp ước Thiên Tân tháng 6 năm 1885 , hai bên Pháp và nhà Thanh công nhận sự hiện hữu một đường biên giới lịch sử giữa hai nước Trung Hoa và Việt Nam (lúc đó Pháp và nhà Thanh gọi là An Nam). Công việc hành chánh của hai bên là ra thực địa, trong ṿng 6 tháng, để nh́n nhận lại đường biên giới đó đồng thời đóng mốc giới ở những nơi không rơ rệt. Nguyên văn điều 3 như sau :
« Dans un délai de six mois à partir de la signature du présent traité, des commissaires désignés par les hautes parties contractantes se rendront sur les lieux pour reconnaître la frontière entre la Chine et le Tonkin ; ils poseront, partout où besoin sera, des bornes destinées à rendre apparente la ligne de démarcation ; dans le cas où ils ne pourraient se mettre d'accord sur l'emplacement de ces bornes ou sur les rectifications de détail qu'il pourrait y avoir lieu d'apporter à la frontière actuelle du Tonkin, dans l'intérêt commun des deux pays. Ils en référeraient à leurs gouvernements respectifs.

Tạm dịch ra tiếng Việt : « Trong một khoảng thời gian 6 tháng, các ủy viên của hai bên sẽ ra thực địa để nh́n nhận đường biên giới giữa Trung Hoa và Bắc Kỳ. Những người này sẽ cắm mốc ở mọi nơi thấy cần thiết để đường biên giới được rơ ràng. Trường hợp hai bên không thống nhất về vị trí những cột mốc hay nếu có những điều chỉnh trên đường biên giới hiện trạng, v́ quyền lợi hai nước, việc này sẽ đưa về hai chính phủ để giải quyết ».

Việc « nh́n nhận » đường biên giới, như qui định, đáng lẽ được thực hiện trên thực địa. Nhưng đă không làm được, do trở ngại v́ thời tiết và địa h́nh th́ ít, mà do các cạm bẫy hiểm nghèo của phía người Hoa dựng lên th́ nhiều, (ngoại trừ đoạn biên giới thuộc vùng Quảng Tây, vùng chung quanh ải Nam Quan). Thời gian dự trù 6 tháng đă phải kéo dài đến 12 năm. Việc « nh́n nhận đường biên giới » trở thành việc « phân định lại đường biên giới ».

Ủy ban phân định biên giới của Pháp được thành lập từ tháng 8 năm 1885, lúc đầu do ông Bourcier de Saint Chaffray làm chủ tịch. Ông này đă thành công việc « nh́n nhận đường biên giới trên thực địa » khoảng trên 300km đương biên giới, từ ải Nam Quan đến ải Chí Mă và từ ải Nam Quan đến ải B́nh Nhi, tức hai tiểu đoạn trong vùng biên giới Quảng Tây. Ông này sau đó từ chức v́ lư do sức khỏe. Ông Dillon, nguyên tổng Lănh Sự kiêm Thống Sứ tại Huế, được phong chức tương đương hàng thứ trưởng để thay thế ông Bourcier de Saint Chaffray. Ông Dillon đă từng đảm nhiệm công tác ở Trung Quốc trên 25 năm với chức vụ lănh sự, thông hiểu tường tận ngôn ngữ và văn minh Trung Hoa. Theo dự kiến, hai bên tiếp tục công tŕnh của Bourcier de Saint Chaffray, sẽ nhóm họp tại Đồng Đăng từ tháng giêng đến tháng 4 năm 1886 để giải quyết biên giới vùng Quảng Tây, từ tháng 6 đến tháng 11 năm 1886 tại Lào Cai cho biên giới Vân Nam và từ tháng 12 năm 1886 đến tháng 4 năm 1887 tại Móng Cái cho biên giới Quảng Đông (và biên giới trong vịnh Bắc Việt). Nhưng dự kiến không thành hiện thực v́ phía Trung Hoa đă nhận thấy những bất lợi cho họ qua kinh nghiệm « nh́n nhận đường biên giới trên thực địa » đă diễn ra từ tháng 8 năm 1885 đến tháng 3 năm 1886. Do đó họ t́m cảnh cản trở. Hai đoạn biên giới, từ Nam Quan – Chí Mă và Nam Quan – B́nh Nhi, đường biên giới qui ước khá phù hợp với đường biên giới lịch sử.

Người Pháp mới đến VN, chưa rơ phong tục tập quán của dân VN cũng như không nắm vững địa h́nh địa vật của đất nước VN. Họ c̣n phải đối phó với những viên quan Trung Hoa vừa thông hiểu thực địa, lại vừa mưu mẹo, quĩ quyệt. Họ phải đối diện với những đe dọa đến từ các băng đảng cướp người Hoa (giặc Cờ Đen, Cờ Vàng...) hoành hành ở các tỉnh miền bắc và trên vùng biên giới cũng như sự bất hợp tác của quan lại Việt Nam. Trong khi quân đội Pháp, v́ có chủ trương bỏ vùng Bắc Kỳ thuợng du và chỉ giữ vùng đồng bằng, cũng không đưa quân để b́nh định các vùng biên giới. Việc mất an ninh thường xuyên trên biên giới là do phía Trung Hoa đứng sau giật dây những đảng cướp Tàu. Quân đội chính qui Trung Hoa cũng đội lốt giặc cướp, dàn dựng những cuộc phục kích, cản trở ác ủy viên Pháp làm trắc địa trên thực địa. Một số nhân viên cùng binh lính Pháp bị thiệt khi làm các công tác này tại Lào Cai. Một số khác bị thiệt mạng do quân Tàu đánh úp vào Móng Cái.

Phía người Hoa t́m mọi cách để cản trở người Pháp trong việc « nh́n nhận đường biên giới trên thực địa ». Và họ đă thành công. Cuối cùng ủy ban Pháp phải « đề nghị » với Trung Hoa để hai bên hoạch định biên giới trên bản đồ. Đương nhiên phía người Hoa đồng ư. Và điều hiển nhiên các tấm bản đồ phân định đều do phía người Hoa thành lập. Một điểm chung : các bản đồ này đều vẽ rất sai so với thực tế. Người Hoa đă buộc người Pháp « chơi » trên « sân chơi » của họ.

Đường biên giới đoạn 1, cũng như phần c̣n lại của đoạn 2 và 3, được thành h́nh qua hai giai đoạn : giai đoạn phân định và giai đoạn phân giới, cắm mốc. Giai đoạn phân định chủ yếu ở việc tạo dựng hồ sơ sau đó so sánh, thương thuyết nhằm thống nhất quan điểm. Giai đoạn phân giới chủ yếu ở việc cắm mốc trên thực địa, lập biên bản và vẽ bản đồ.

2/ Nghiên cứu hồ sơ phân định của Ủy ban Pháp :

Hồ sơ của ủy ban Pháp, vùng Quảng Đông, phần lớn đặt căn bản trên sử liệu của phía Trung Hoa, do các tác giả dưới triều nhà Thanh biên soạn, như Đại Thanh nhứt thống chí, Đại Thanh hội điển đồ… Một số tài liệu Việt Nam như Kiến văn tiểu lục của Lê Quí Đôn, các tập địa chí thời Nguyễn cũng như sổ bạ địa chính từ nha Kinh lược của triều đ́nh… cũng được tham khảo. Công tŕnh trắc địa của các nhà truyền giáo Ḍng Tên (Jésuites) cũng được nhắc tới. (Công tác trắc địa lập bản đồ của các nhà truyền giáo Jésuites là do chủ trương của vua Khang Hi. Công tŕnh này kéo dài 10 năm, bắt đầu vào ngày 10 tháng 7 năm 1708 và kết thúc năm 1718. Kết quả đo đạt đă được đón nhận, về sau trở thành hồ sơ cơ bản về địa chí của nhà Thanh).

Trong vùng Quảng Đông, một chi tiết đáng chú ư trong hồ sơ của Pháp, dẫn từ hồ sơ của ủy ban Trung Hoa, là sự hiện diện của một con sông mang tên An Nam giang 安南江, được xem là con sông biên giới của hai nước Việt Trung. Chi tiết này lấy từ tài liệu của các nhà truyền giáo Jésuites. Tài liệu duy nhất của Trung Hoa có ghi « An Nam Giang » là bộ « Thủy Tiêu Đề Cương 水逍提綱 », viết năm 1761, tác giả Tề Triệu Nam 齊召, công bố năm 1796. Sách này mô tả khu vực biên giới như sau : « Phía Tây Long Môn 龍門 có cửa khẩu « Pḥng Thành Hà Khẩu », xa hơn là cửa sông Thiếp Lăng, xa hơn nữa là cửa sông An Nam, bờ Tây ngạn sông này là biên giới An Nam… Sông này chảy theo hướng Đông khoảng vài chục dặm đến Tư Lặc Động 思勒峒 th́ chuyển hướng về phía Nam, sau đó chảy theo hướng Đông-Nam, sau vài mươi lí theo hướng nầy th́ đổ ra Nam Hải » (Thủy Tiêu Đề Cương, q 20, tờ 19). Con sông, cùng với bản đồ dưới đây, th́ có thể trùng hợp với con sông Bắc Luân (Ka Long), tức đường biên giới hiện nay. Bộ sách này th́ không phải là bộ chính sử, mặt khác, nó hầu như là bản sao của công tŕnh của các nhà truyền giáo Jésuites.

liemchauphu4

H́nh trên : bản đồ Liêm Châu phủ (Lien-Tcheou Fou) theo các nhà truyền giáo Jésuites. Trên bản đồ có ghi Ngan-nan Kiang (An Nam Giang), « frontière annamite biên giới An Nam », Thiếp Lăng giang (Tieh Lang), Pak-lung (tức mũi Bạch Long – Bailong), Khâm Châu (Kin-Tcheou).

Trong khi đó, Đại Thanh Nhứt Thống Chí, con sông chảy theo đường biên giới Việt-Trung là Thiếp Lăng Giang 貼朗江, cách Khâm Châu 240 dặm. Sông nầy bắt nguồn từ những ngọn núi về phía Tây-Bắc huyện Khâm Châu. Sông này nhận diện được trên các bản đồ hiện nay là con sông bắt nguồn từ núi, chảy vào huyện Pḥng Thành. Tập địa chí chính thức của Thanh Triều không hề ghi tên An Nam Giang, mặc dầu phía nam sông Thiếp Lăng có vài con sông không đề tên.

liemchauphu3
liemchauphu2
LiemChauPhu

Các h́nh trên: Liêm Châu phủ, theo Đại Thanh nhứt thống chí và Đậi Thanh hội điển đồ. Trên các bản đồ ta thấy Pḥng Thành (Fang-cheng) và sông Thiếp Lăng. Sông này là biên giới hai nước Việt-Trung. Các tập địa chí này không ghi nhận con sông nào mang tên An Nam Giang.

Về địa chí của Việt Nam, cũng không có một sử liệu nào ghi tên một con sông gọi là An Nam Giang.
Nhưng sự hiện diện (trên giấy tờ) của con sông biên giới An Nam Giang đă làm cho vấn đề vốn đă mù mờ lại càng thêm phức tạp. Giả sử rằng con sông này có thật, ở về phía nam sông Thiếp Lăng. Nếu nh́n nhận sông này là biên giới, th́ làm sao giải thích được các làng xóm người Việt hiện hữu khoảng giữa hai sông Thiếp Lăng và An Nam Giang, từ nhiều thế kỷ, như Trúc Sơn, Cương B́nh (nay là huyện Giang B́nh), Bạch Long, hay các đảo trong vịnh Vạn Xuân ? Theo các tài liệu thời đó, dân tộc Hán chỉ mới sinh sống ở đây chỉ sống sau khi các biến động do dân Hồi hay Thái B́nh Thiên quốc (hậu bán thế kỷ 19). Họ sống tụ tập thành từng làng nhỏ ở các vùng trù phú, bằng cách chiếm ngụ các vùng đất tốt của dân địa phương (thổ dân - Choang) và đuổi những người này vào rừng núi. Vào thời điểm phân định biên giới, người Hán đă tràn ngập từ Pḥng Thành tới Móng Cái. Thành phố Móng Cái của VN hiện nay, hoàn toàn do người Hoa kiểm soát. Điều này tương tự ở Kỳ Lừa, đối diện với Lạng Sơn, ở khu vực Quảng Tây. Những người Hoa ở Móng Cái, đa số nếu không là cướp biển th́ cũng là những lái buôn, có cửa hiệu trên con lộ chính Ḥa Lạc (tên cũ của Móng Cái), chuyên buôn bán đồ ăn cướp của hải tặc, kể cả nô lệ.

Toàn vùng, ngoại trừ huyện Giang B́nh (Jiangbing, ở phía bắc Đông Hưng hiện nay), các làng ở Bạch Long (Bailong) và các đảo trong vịnh Vạn Xuân (Sơn Tâm, Vu Đầu và Vạn Vĩ) th́ do người Việt sinh sống.

Tuy vậy, hồ sơ của Ủy ban Pháp cho rằng : « dựa lên địa chí của Trung Hoa th́ lănh thổ An Nam mở rộng cho đến Long-men (Long-Môn) ».

Để giải thích việc này, tài liệu viết rằng : khoảng từ 20 năm trước, bọn cướp Tàu đă chiếm vùng Bạch Long cũng như Long Môn để làm sào huyệt. Và đó là lư do mà vùng đất này đă ra ngoài tầm kiểm soát của Việt Nam. Trên thực địa, đường biên giới khu vực này được cụ thể hoá qua những đồn canh (ải) của Trung Hoa đă dựng lên. Đường nối các đồn ải này chừa ra huyện Giang B́nh (bao gồm luôn Packlung - Bạch Long). V́ lư do này mà huyện Giang B́nh mới trở thành một « enclave », tức một vùng đất của người Việt trên đất Trung Hoa .

Điều đáng chú ư là huyện Đông Hưng lúc đó chưa thành lập, mới chỉ là một trại lính nhỏ. Phồn thịnh nhất trong khu vực là Mang Nhai (tức Móng Cái – tên người Pháp gọi trại đi).

Những bằng chứng phía ủy ban Pháp đưa ra để chứng minh huyện Giang B́nh thuộc về Việt Nam :
Thứ nhứt, huyện Giang B́nh đă được triều đ́nh Huế bổ một vị quan cùng gia đ́nh về cai trị và thâu thuế dân chúng từ mấy chục năm trước. Nhưng người hậu duệ cuối cùng của viên quan đă bị quân cướp Tàu giết, thân xác bị chặt làm nhiều khúc qua biến cố tháng 11 năm 1886 (biến cố nầy làm thiệt mạng một số quân đội Pháp và ông Haitce, nhân viên của Ủy Ban Phân Định Biên Giới).

Thứ hai, những nhân chứng sống, là những người dân địa phương, người Hoa cũng như người Việt. Những người dân này đă hướng dẫn các ủy viên phân định vào tháng 11 năm 1886 và vào tháng 1 năm 1887 để làm công tác trắc địa. Những dữ kiện đo đạc th́ phù hợp với những điều tra trước đó.
Thứ ba là sổ bạ ghi chép điền địa từ các huyện, phủ trong vùng. Thứ tư là bản đồ chính thức của An Nam.

Thứ năm là chứng nhận của nha Kinh Lược từ triều đ́nh Huế.

Việc nầy xác định huyện Giang B́nh, bao gồm bán đảo Pack-Lung (Bạch-Long) cũng như các đảo trong vịnh Vạn Xuân th́ thuộc Việt Nam.

Đường biên giới Việt-Trung, theo hồ sơ của Ủy ban Phân định Pháp, dựa lên địa chí của Trung Hoa, xác định có đi qua các cửa ải : 1) Ải Na Tô 那蘇隘 , ở phía Tây Nam huyện Khâm Châu ; 2) Ải Nhẫm Quân 稔均隘 , cách ải Na Tô 70 lí về hướng Đông Nam và 3) Ải Na Long 那隆隘 , cách ải Na Tô 10 lí về phía Đông.

Đường biên giới được xác lập trên bản đồ : từ núi Phân Mao, qua các ải Na Tô, Nhẫm Quân và Na Long, sau đó theo sông Thiếp Lăng, trước khi đến biển khoảng 10 km, biên giới rời sông, đánh một ṿng cung bao bọc Giang B́nh và mũi Bạch Long, để chấm dứt tại gần Long Môn. Bạch Long (và các đảo trong vịnh Vạn xuân) cũng như Giang B́nh thuộc về Việt Nam theo như sơ đồ dưới đây :

Pak lung CAOM

Ủy ban Trung Hoa không chấp nhận đề nghị của ủy ban Pháp về đường biên giới. Điều đáng tiếc là tác giả không tham khảo được hồ sơ phía bên Trung Hoa để biết thêm các lư lẽ của họ về đường biên giới lịch sử như thế nào. Họ bác bỏ đề nghị của ủy ban Pháp với những lư do ǵ ? Trong khi hồ sơ của Pháp thiết lập phần lớn từ từ địa chí của Trung Hoa. (Nghi án Mạc Đang Dung có thể sẽ sáng tỏ hơn nếu hồ sơ phía bên Trung Hoa được bạch hóa).

Do bất đồng của hai bên, nội vụ phải đưa về Bắc Kinh, do Tổng Lư Nha Môn và Đặc Sứ Pháp tại Bắc Kinh, giải quyết.

3/ Kết quả phân định – Việt Nam mất đất Giang B́nh, Bạch Long cùng các đảo trong vịnh Vạn Xuân :
Hồ sơ tranh chấp được chuyển về Bắc Kinh. Công Sứ Toàn Quyền Pháp tại Bắc Kinh là ông Ernest Constans.

Hiệp ước Thiên Tân 1885 dự trù ở điều 3 về việc nh́n nhận lại đường biên giới, điều 6 dự trù một kết ước về thuơng mại. Công ước về Thuơng mại được kư ngày 25 tháng 4 năm 1886 do ông François-Georges Cogordan kư với Lư Hồng Chương. Công ước này là một thất bại lớn lao cho phía Pháp. Bởi v́ tất cả những ǵ Pháp yêu cầu đều không chấp thuận, trong khi những đ̣i hỏi của Trung Quốc, cho dầu rất phi lư, th́ đều được chấp nhận. Mặc dầu, trên danh nghĩa, Pháp thắng trận. Để « gỡ gạc » lại vấn đề kinh tế, chính quyền Pháp cử ông Ernest Constans một mặt phụ trách kư kết Công ước 1887 về phân định biên giới, mặt khác kiêm nhiệm luôn việc thuơng lượng để kư lại một phụ ước về thuơng mại (Convention additionnelle de Commerce).

Ông Constans như thế cùng lúc phụ trách kư kết hai công ước : một về thương măi và một và biên giới. Vấn đề biên giới như thế bị « phụ thuộc » vào « thuơng mại ». Phía Trung Hoa do đại diện Tổng Lư Nha Môn là Lư Hồng Chương phụ trách. Ông này nổi tiếng là một con « cáo già » chính trị.
Để nhận được ưu đăi về thuơng mại, ông Constans đă nhượng bộ cho Trung Hoa tất cả những đ̣i hỏi của ủy ban Trung Hoa về lănh thổ. Ở biên giới Quảng Đông, Pháp nhượng cho Trung Hoa các vùng đất của Việt Nam mà người Pháp gọi là « enclave Paklung », tức bao gồm huyện Giang B́nh và bán đảo Bạch Long (và các đảo trong vịnh Vạn Xuân). Biên giới Vân Nam th́ nhượng tổng Tụ Long và toàn vùng lănh thổ hở hữu ngạn sông Đà (tức toàn vùng Lai Châu, là vùng đất chịu ảnh hưởng của các thổ ti người Thái như Đèo (Điêu) Văn Trị). Vùng đất này chỉ lấy lại được qua công ước bổ túc về biên giới 1895. Ngoài ra, sau này, trong thời kỳ phân giới, do các bản đồ vẽ sai và do các âm mưu của quan lại người Hoa, phía Việt Nam bị thiệt hại thêm các vùng đất thuộc tổng Kiến Duyên và Bát Tràng (sẽ nói ở dưới), đất thuộc tổng Đèo Lương (Luông) thuộc tỉnh Cao Bằng, mất thêm đất ở Mường Khuơng v.v…

Nội dung công ước về biên giới ngày 26 tháng 6 năm 1887 như sau :
« Tại Quảng Đông, hai bên thỏa thuận rằng những điểm tranh chấp ở về phía Đông và phía Đông Bắc Móng Cái, những điểm này ở phía bên kia của đường biên giới đă được ủy ban phân định xác định, th́ chúng được giao cho Trung Hoa. »

Phần c̣n lại, vùng biên giới Quảng Đông được thể hiện qua biên bản số 1, kư tại Móng Cái ngày 29-3-1887 (nhằm ngày năm tháng ba năm Quang Tự thứ mười ba). Nội dung như sau :

« Ủy ban phân định biên giới đă công nhận rằng từ Trúc Sơn 竹山, thuộc Trung Hoa, đường biên giới theo ḍng sông, hướng Đông sang Tây, cho đến Móng Cái – Đông Hưng 東興. Đường trung tuyến của ḍng sông được dùng làm ranh giới và chia các khu vực thuộc Trung Hoa là La Phù Động 羅浮峒, Đông Hưng 東興v.v.. với các khu vực thuộc An Nam là Ngũ Sĩ 伍仕, Móng Cái v.v..

Từ Móng Cái – Đông Hưng đến Bắc Thị 北市 – Gia Long 加隆: đường biên giới khá quanh co, có hướng chung Bắc đến Bắc Tây Bắc và theo trung tuyến của ḍng sông, phân chia những vùng đất Na Chi 那芝, Ka Long v.v.. thuộc về Trung Hoa những vùng Thác Lănh 托嶺, Nam-Lư南里, Bắc Thị v.v… thuộc An Nam.

Từ Bắc Thị - Gia Long đường biên giới theo trung tuyến sông Gia Long, là một phụ lưu tây ngạn của sông Bắc Thị 北市江, có độ dài khoảng chừng 30 lí (mỗi lí là 561 thước), và khi vượt ra ngoài 30 lí nầy đường biên giới rời sông, theo đường thẳng trực tiếp để đến điểm cách Động Trung 峝中村 3 lí về hướng Bắc, tức điểm được đánh dấu A (甲) trên bản đồ số 1. Đường biên giới chia cho phía Trung Hoa các vùng Lănh Ḥa 嶺懷, Phi Lao 披勞, Bản Hưng 板興 v.v… và một ngọn núi mang tên Phân Mao Lĩnh 分茅嶺, núi này ở phía Đông Nam của Bản-Hưng 板興 và dựa lên đường biên giới. Các vùng Ná Dương 那陽, Động Trung 峝中 và những nơi khác th́ thuộc về An Nam.

Từ điểm A, đường biên giới đi về hướng ải Bắc Cương 北崗隘, núi Phái Thiên 派遷山, cách làng B́nh Liêu 平寮村 của An Nam khoảng 30 lí theo đường thẳng. Đường biên giới chia các trạm Ná Quang Ca 那光卡, Bản Thôn Ca 板吞卡v.v.. cho Trung Hoa và các vùng Na Dương 那陽, xă Tŕnh Tường 呈祥社 v.v.. cho An Nam. »

bienbanTchouk-san_Chima
bienbanTchouk-san_Chima5
bienbanTchouk-san_Chima4
bienbanTchouk-san_Chima3
bienbanTchouk-san_Chima2

Các h́nh trên : h́nh chụp biên bản phân định biên giới ngày 29-3-1887

Bản đồ phân định dưới đây (xem phần 6, bản đồ 1) cho thấy đây là một tấm bản đồ rất sai. Đường biên giới trên bản đồ cho thấy hướng đi chung của nó là tây bắc, đến điểm A trở lại hướng tây nam để đến Bắc Cương Ải. Điểm A xác định trong biên bản ở kế cận núi Phân Mao. Những ủy viên phân dịnh Pháp, tin tưởng lên tấm bản đồ này, nghĩ rằng họ đă thiết lập được đường biên giới qui ước phù hợp với đường biên giới lịch sử, do đó không ngần ngại kư nhận vào viên bản. Nhưng sau này, khi phân giới, người ta khám phá rằng tấm bản đồ này hoàn toàn không đúng trên thực tế. Hướng tây bắc trở thành hướng tây và tây nam. Điểm A không c̣n ở kế cận núi Phân Mao (gần Khâm Châu) mà ở xa về phía nam. Người Hoa đă dựng lên một đền thờ giả Mă Viện gần một trái núi và nói rằng núi đó là núi Phân Mao. Những việc này sẽ nói ở phần phân giới và cắm mốc.

4/ Kết quả phân giới và cắm mốc :

4.1 Thời kỳ 1889-1890 do Chiniac De Labastide làm chủ tịch.
Việc phân giới khu vực Quảng Đông chính thức bắt đầu vào buổi họp ngày 1 tháng 11 năm 1889. Phái đoàn Pháp do ông Chiniac de Labastide làm Chủ Tịch. Bên Trung Hoa có Li Sheou-Toung, Tri Phủ Khâm Châu làm Chủ Tịch. Trong thời kỳ này, các quyết định của hai ủy ban về biên giới không hiệu lực tức thời mà phải chờ sự chấp nhận của Tổng Lư Nha Môn. Trước đó, hai bên đă có nhiều cuộc họp để bàn luận nhằm thống nhất quan điểm về đường biên giới. Phía Pháp đặt bản doanh ở Hoành Mô. Các ủy viên Pháp ra thực địa làm công tác trắc địa và lập bản đồ. Có hai bộ bản đồ được lập ra, trên vải lụa, tỉ lệ 1/10.000. Một tấm mô tả biên giới từ biển cho đến hợp lưu sông Gia Long- Bắc Thị. Một tấm từ điểm hợp lưu này đến ải Bắc Cương.

Như đă thấy, theo nội dung biên bản phân định, đường biên giới phải đi qua ngọn núi Phân Mao. Đây là nguyên nhân đem lại khó khăn cho vấn đề phân giới. Các ủy viên người Pháp đă bỏ công t́m kiếm trên thực địa, cũng như xem lại các địa chí, hay hỏi thăm dân chúng trong vùng để xác định vị trí núi này. Phía người Hoa, trong một buổi họp, khi các ủy Pháp đặt câu hỏi về vị trí núi này ở đâu trên bản đồ, th́ lộ vẻ bối rối, hẹn trả lời trong buổi họp tới. Đến lúc họp mặt lại, th́ ông tri phủ Khâm Châu chỉ tay vào một trái núi trên bản đồ rồi cho rằng đó là “Phân mao lănh”. Phía ủy ban Pháp phản đối, v́ họ đă biết vị trí thật của núi này ở đâu. Trong khi đó, khoảng thời gian giữa hai buổi họp, phía người Hoa đă cho người tạo dựng một ngôi đền nhỏ, viết tên đề là đền thờ « Phục Ba tướng quân », rồi đặt tên cho ngọn núi đó là núi Phân mao. Phái đoàn Pháp kịch liệt phản đối, v́ họ biết chính xác vị trí núi này ở cách xa khu vực này vài chục cây số, về phía bắc. Phía người Hoa biện luận rằng nhận xét của phái đoàn Pháp là chính xác, nhưng núi đó là núi “Đại Phân mao”, trong khi núi ở khu vực này là “Tiểu Phân mao”. Phía người Hoa lập lại một nguyên tắc đă dùng ở Tụ Long để chiếm đất của Việt Nam, qua việc dựng lên con sông Tiểu Đổ Chú. Chiniac De Labastide, trong một bản tường tŕnh lên Toàn quyền Đông dương, tố giác việc này và yêu cầu phân định lại biên giới, nhưng không thành công.

Chiniac De Labastide nhật xét: Từ hợp lưu của sông Gia Long cho đến ải Bắc Cương, trên một chiều dài khoảng 40 cây số, người ta đă bỏ biên giới lịch sử để lấy một đường biên giới khác, ở xa về phía nam, một đường biên giới hoàn toàn qui ước. Việc nầy đă nhường cho Trung Hoa 7 xă rưỡi thuộc tổng Bát Tràng và hai xă khác thuộc tổng Kiến Duyên. Ông không chấp nhận nhượng bộ, yêu cầu phân định lại biên giới. Do đó công việc phân giới bế tắt, đến thời kỳ Đại tá Galliéni (1893-1894) mới giải quyết.

Trong buổi họp đầu tiên 1 tháng 11 năm 1889, một biên bản xác định biên giới được hai bên đồng ư thiết lập, liên quan đoạn biên giới từ biển đến hợp lưu sông Gia Long – Bắc Thị. Biên bản này chỉ có hiệu lực vào ngày 2-3-1890, kư tại Thán Sản.

Biên bản này xác định biên giới hai nước là con sông Gia Long, tức chỉ một phần của đoạn 1. Biên bản cũng dự trù việc cắm mốc, ở bờ phía Trung Hoa cũng như phía bên Việt Nam, mà việc này dĩ nhiên là không cần thiết. Nội dung biên bản như sau :

Chủ quyền các đảo và đoạn biên giới từ biển cho đến hợp lưu sông Gia Long được xác định như sau :

1. Những ḥn đảo ở phía Đông kinh tuyến Paris, 105° 43’ của kinh độ Đông, có nghĩa là đường Bắc Nam đi qua đông điểm của đảo Trà Cổ 茶古 th́ thuộc về Trung Hoa ; những ḥn đảo tên Cữu-Đầu九頭 và những đảo khác ở phía Tây của đường kinh tuyến nầy th́ thuộc về An Nam.

2. Từ Trúc Sơn 竹山, đường biên giới theo ḍng sông từ Đông sang Tây cho tới Đông Hưng 東興 và Mang Nhai 硭 鈣.

Đường trung tuyến của ḍng sông là đường biên giới phân chia địa hạt La Phù 羅浮 và địa hạt Đông Hưng 東興 thuộc Trung Hoa với vùng Xuân Lạn 春爛 (vùng này bao gồm các địa phận Mũ Săi, c̣n được gọi là Ngũ Sĩ 伍仕, địa phận Tử Kinh Sơn 紫京山, địa phận Lục Lâm 陸林) và địa phận Vân Xuân 萬春 (địa phận nầy bao gồm thị trấn Mang Nhai 硭街, tức Móng Cái), những vùng nầy thuộc về An Nam.

3. Từ Đông Hưng 東興 và Mang Nhai 硭街 cho tới Gia Long 加隆 (c̣n viết là嘉隆) và Bắc Thị 北市 đường biên giới khá ngoằn ngoèo và ḍng sông đại để đi theo hướng Tây Bắc.

Biên giới phân chia Na Chí 那至 (c̣n được viết là 那芝),Vọng Hưng 望興, Gia Long 加隆 (hay 嘉隆) và những vùng khác thuộc Trung Hoa với vùng Ninh Dương 寧陽 và vùng Vạn Xuân 萬春 (vùng nầy bao gồm địa phận Thân Phan 櫬潘) và Bắc Thị 北市 th́ thuộc về An Nam.

Theo các công ước đă được hai ủy ban công nhận trong phiên họp khai mạc công tŕnh phân giới, vào ngày 1 tháng 12 năm 1889 nhằm ngày 8 tháng 10 năm Quang Tự thứ 15, người ta luôn chọn đường biên giới là đường nước tàu bè lưu thông, có nghĩa là phần sâu nhất của ḍng sông, là đường giới hạn giữa hai nước.

Nếu sau nầy, v́ ngập lụt hay v́ cạn nước, đường tàu bè thông lưu thay chỗ, và nếu những dăi đất hay các cù lao được thành h́nh, đường biên giới sẽ đương nhiên dời qua đường tàu bè thông lưu mới và những dăi đất hay cù lao mới thành h́nh sẽ thuộc về nước mà phía bờ của nó ở đó.

Theo biên bản đă kư tại Móng Cái ngày 29 tháng 3 năm 1887 tức ngày thứ năm tháng 3 năm Quang Tự thứ 13, địa phận Thác Lănh 托嶺 thuộc về An Nam.

Cả hai ủy ban đă không thể biết địa phận nầy ở đâu, nêu cùng quyết định sẽ không t́m kiếm thêm nữa.

Cũng trong biên bản đó chỉ định rơ rệt rằng địa phận Nam Lư 南里 thuộc An Nam.

Địa phận nầy ờ tả ngạn của ḍng sông biên giới và tạo thành một vùng đất của An Nam nhưng ở trên nước Trung Hoa, ủy ban Pháp nhượng địa phận nầy cho Trung Hoa.

Để bù lại, ủy ban Trung Hoa cam kết sẽ hành động giống như vậy, nếu trong lúc phân giới đoạn thứ hai của biên giới Quảng Đông, Trung Hoa có một vùng đất tương tự trong nội địa An Nam.

Theo hiệu lực của các điều trên đây, các ủy ban đă thi hành như sau việc cắm mốc trên đoạn thứ nhất của đường biên giới.

TRÊN LĂNH THỔ AN NAM

Cột số 1 : Trên ḥn đảo nhỏ mang tên Lionceau (ltg : Sư Tử Lănh)
Chuẩn điểm : bỏ trắng
Cột số 2 : Tại Tri Ḱnh Sơn 紫京山.
Chuẩn điểm :
Cột số 3 : Tại Lục Lâm 陸林.
Chuẩn-điểm :
Cột số 4 : Đối diện Na Triệu 那旐, trên đường dẫn tới Xuân Thụ 春樹.
Chuẩn điểm :
Cột số 5 : Phía trước lô cốt Móng Cáy.
Chuẩn điểm góc : b 311° 56’ 05’’ ; Mirador 315° 22’ 10’’ ; Fortin 77° 08’ 15’’
Cột số 6 : Ở đầu của con đường Phục Thiên 服扁.
Chuẩn điểm góc : Mirador 273° 44’ 10’’ ; b 33° 14’ 40’’ ; a 56° 21’ 35’’
Cột số 7 : Đối diện Thác Lănh 托嶺, ở trước phần dưới thấp của một dăi cát.
Chuẩn điểm :
Cột số 8 : Trước ṭa Lộc Phủ 祿俛.
Chuẩn-độ góc : Signal Đông Bắc Lộc Phù 31° 30’ 05’’ ; a 145° 30’ 50’’ ; a 199° 56’ 55’’
Cột số 9 : Phía trước nhà Tất Na 必那.
Chuẩn độ góc : a 59° 32’ 20’’ ; h 320° 16’ 40’’ ; s 321° 13’ 20’’
Cột số 10 : Trên một cù lao ở phía trước Trúc Kết, c̣n gọi là Đôn Cát.
Chuẩn độ góc : f 345° 38’ 00’’ ; s 349° 16’ 30’’ ; Mă Đầu Sơn 213° 21’ 10’’.

TRÊN LĂNH THỔ TRUNG HOA

Cột số 1 : Tại chợ Trúc Sơn 竹山.
Chuẩn độ phương vị từ : Sư Tử Lănh 345° ; Fortin 285°
Cột số 2 : Tại điểm Trắc Ki Thán 測旗灘.
Chuẩn điểm :
Cột số 3 : Ở tại hợp lưu với con suối Kiều Đầu Câu 橋頭溝.
Chuẩn-độ phương-vị từ : Lô-cốt 311° ; Fortin 331°
Cột số 4 : Phía trên cầu thang dẫn đến ngôi chùa nhỏ ở Đông Hưng.
Chuẩn-điểm :
Cột số 5 : Ở ngay ngả vào của con đường trổ ra cầu Đông Hưng.
Chuẩn-điểm :
Cột số 6 : Tại Thủng Bốc, c̣n được gọi là Thùng Bộc, ở tại bến phà Quá Phố 瓜甫.
Chuẩn độ góc : Fortin 185° 24’ 10’’ ; a 39° 23’ 45’’ ; b 14° 54’ 25’’
Cột số 7 : Tại hợp lưu với con suối Giang Na 江那, phía tả ngạn.
Chuẩn độ góc : b 64° 52’ 45’’ ; a 351° 53’ 55’’ ; a 292°
Cột số 8 : Tại hợp lưu với con suối Vọng Hưng望 興, phía hữu ngạn.
Chuẩn-độ góc : Signal đông bắc Lộc Phù 98° 15’ 00’’ ; s 15° 20’ 35’’ ; f 1° 57’ 15’’
Cột số 9 : Tại hợp lưu với sông Na Lương那 良, phía hữu ngạn.
Chuẩn-độ góc : f 94° 48’ 15’’ ; s 60° 29’ 45’’ ; Mă Đầu Sơn 348° 11’ 20’’.
Cột số 10 : Tại Đại Hà 大河, ở đầu con đường dẫn tới Bắc Thị 北市.
Chuẩn độ phương vị từ : f 114° ; Mă Đầu Sơn 221° 00’

4.2 Thời kỳ 1893-1894 do Đại tá Galliéni làm chủ tịch.

Vấn đề tranh chấp đoạn biên giới từ hợp lưu sông Gia Long đến ải Bắc Cương không giải quyết được dưới thời Chiniac De Labastide 1890-1892, phải chờ đến năm 1893-1894, thời kỳ Đại tá Galliéni làm chủ tịch. Nội dung tranh chấp đoạn biên giới này được tŕnh bày trong bản tường tŕnh của Chiniac De Labastide, đính kèm trong phần phụ lục bài này. Vấn đề tranh chấp gồm các điểm:

a) đường biên giới là nhánh sông tây bắc hay nhánh sông tây nam ? Theo biên bản phân định biên giới ngày 29-3-1887, đường biên giới được mô tả: “Từ Bắc Thị - Gia Long đường biên giới theo trung tuyến sông Gia Long, là một phụ lưu tây ngạn của sông Bắc Thị 北市江, có độ dài khoảng chừng 30 lí (mỗi lí là 561 thước), và khi vượt ra ngoài 30 lí nầy đường biên giới rời sông,...” Nhưng trên thực tế th́ có hai nhánh sông, đều ở về phía tây ngạn sông Bắc Thị, cùng có chiều dài khoảng 30 lí, nhưng một nhánh có hướng tây bắc, một nhánh có hướng tây nam. Chiếu theo bản đồ phân định, hướng đi của đường biên giới, từ hợp lưu sông Bắc Thị - Gia Long, đến điểm A, là hướng tây bắc. Như thế, hợp lư, đường biên giới phải là nhánh sông có hướng tây bắc. Nhưng phía Trung Hoa th́ không đồng ư với nhận thức này. Họ quan niệm đường biên giới là nhánh tây nam. Theo họ, chiều dài con sông chỉ tính khi nó chảy trên đồng bằng. Phần chảy trong núi non th́ không tính. Như thế, nhánh tây bắc không đủ chiều dài 30 lí! (Xem sơ đồ 1)

b) Quan niệm về đường thẳng. Biên bản phân định ngày 29 tháng 3 năm 1887 mô tả hướng đi đường biên giới : “khi vượt ra ngoài 30 lí nầy đường biên giới rời sông, theo đường thẳng trực tiếp để đến điểm cách Động Trung 峝中村 3 lí về hướng Bắc, tức điểm được đánh dấu A (甲) trên bản đồ số 1.” Trên bản đồ do các trác địa viên Pháp thành lập, đường thẳng nối từ điểm “đường biên giới rời sông” cho đến điểm A trên bản đồ số 1 có hướng đông nam – tây bắc. Nhưng phía người Hoa không nh́n nhận đường này là “đường thẳng” mà là “đường nghiêng”. Theo họ, đường thẳng phải là đường “ngang” và đường “dọc”. Đường biên giới theo họ phải là đường nối ngang, từ điểm “đường biên giới rời sông” cho đến phía nam chợ Động Trung. Sau đó, từ điểm này vạch một đường thẳng đến điểm A (cách chợ Động Trung 3 lí). (Nhận diện điểm A trên sơ đồ 1 – so sánh đường biên giới theo đường thẳng trên các bản đồ 1 và 2).

c) Tranh chấp về vị trí núi Phân Mao. Biên bản phân định ngày 29 tháng 3 năm 1887 phân chia : “Đường biên giới chia cho phía Trung Hoa các vùng Lănh Ḥa 嶺懷, Phi Lao 披勞, Bản Hưng 板興 v.v… và một ngọn núi mang tên Phân Mao Lĩnh 分茅嶺, núi này ở phía Đông Nam của Bản Hưng 板興 và dựa lên đường biên giới.” Nhưng núi này ở cách xa vùng phân định vài chục cây số. Nhưng người Hoa đă dựng lên một đền thờ Mă Viện giả ở dưới một ngọn núi kế cận Bản Hưng, gọi đó là Phân Mao Lănh. Sau khi bị khám phá, họ bào chữa rằng đó là núi Tiểu Phân Mao.

Đó là một số điểm tranh căi giữa hai phái đoàn Pháp và Trung Hoa (xem them chi tiết ở phần 6). Bài học rút ra ở đây là sự trí trá và ngang ngược của phái đoàn người Hoa về phân định biên giới. Nó có thể giúp ta môt vài kinh nghiệm khi phải đối phó trong trường hợp tương tự sau này.

Ông Chiniac De Labastide đề nghị phân định lại biên giới nhưng không được chấp thuận. Những vị tiếp nối ông, là ông Flandin từ tháng 10 năm 1890 đến tháng 12 năm 1891, ông Servière từ tháng 1 năm 1892 đến tháng 12 năm 1893, đoạn biên giới này vẫn không được giải quyết. Cho đến thời đại tá Galliéni lên làm chủ tịch, từ tháng 1 năm 1894, th́ vấn đề xoay chiều. Tất cả những yêu sách phi lư của phe Trung Hoa đều được Pháp đáp ứng. Lư do bề ngoài của việc nhượng bộ là « vùng tranh chấp có nhiều núi non, ít dân cư và nghèo nàn ». Nhưng thực ra, do thực tiễn và về chiến lược hơn là kinh tế. Giới quân đội Pháp, khi nhận trách nhiệm về phân giới, ưu tiên cho một đường biên giới thiên nhiên như ḍng sông, đường sống núi mà bỏ qua đến đường biên giới lịch sử. Quyết định này làm cho VN mất các vùng đất gồm các xă : Bắc Nham, Hoàng Mộng, Tuy Lai, Nật Sơn, Thuợng Lai, Cỗ Hoàng và Vụ Khê thuộc tổng Bát Tràng cùng với một số xă thuộc tổng Kiến Duyên.

Kết quả phân giới và cắm mốc được ghi lại theo biên bản sau :

Đại-tá Galliéni nhận thấy rằng :

1. Toàn vùng tranh chấp được gọi là « vùng Hoàng Mô » ở khoảng giữa Bắc Cương Ải và Bắc Phong Sinh th́ có nhiều núi non, ít dân cư, và v́ sự nghèo nàn của nó, vùng nầy sẽ không có một tầm quan trọng lớn đối với nước Pháp.
2. Nên áp dụng đúng với tinh-thần biên bản số 1 ngày 29 tháng 3 năm 1887 của Ủy Ban Phân Định Biên Giới mà các điều khoản chính đă được lập lại trong Công Ước Bắc Kinh ngày 26 tháng 6 năm 1887.
3. Phải t́m mọi nơi có thể được để đường biên giới giữa hai nước là đường thiên nhiên, như ḍng sông, đường sống núi, v.v..

Ông Lư trả lời rằng ông cũng đă nhận được chỉ thị để thi hành đúng với các điều khoản của Công Ước nầy, và ông rất sung sướng được thấy thỏa ước về việc nầy đă được chấp thuận giữa hai chính phủ.

V́ vậy hai bên quyết định rằng, theo các chi tiết của biên bản số 1 ngày 29 tháng 3 năm 1887, sẽ chấp nhận đồ tuyến mà Ủy Ban Trung Hoa năm 1889 đ̣i hỏi, có nghĩa là bắt đầu từ Bắc Phong Sinh, đường biên giới trước tiên đi ngược lên nhánh Tây Nam của sông Gia Long cho đến giao điểm của nó với đường gạnh nối màu xanh ở trên bản đồ Trung Hoa do ông Labastide thiết lập.

Đường biên giới theo đường xanh cho đến điểm A, để lại Trung Hoa, đúng như tinh thần Công Ước Bắc Kinh, các vùng Phi Lao, Bản Hưng và Lănh Hoài.

Từ phía Bắc điểm A cho đến Bắc Cương Ải, đường biên giới sẽ được thiết lập trên đường gạch nối màu xanh. Đường nầy được vẽ giữa hai điểm trên bản đồ Chiniac De Labastide và phản ảnh đường biên giới mà Ủy Ban Trung Hoa đ̣i hỏi năm 1889, nhưng để lại cho An Nam vùng Tŕnh Tường như xác định trong biên bản số 1.

1/ Từ Bắc Thị北市, đường biên giới theo đường trung tuyến của sông Gia Long 加隆 (Kia-loung), sông nầy là một nhánh tây ngạn của sông Bắc Thị (Pe-che). Khoảng 500 m phía hạ lưu của Bắc Phong Sinh 北風生 (Pe-Foung-Chen), sông nầy chia làm hai nhánh, một nhánh đến từ hướng Đông Bắc, nhánh c̣n lại đến từ hướng Đông Nam.

Đường biên giới là nhánh sông Đông Nam cho đến khi nhánh sông nầy lại chia lần nữa làm hai nhánh. Chỗ chia nầy được gọi là điểm P.

Từ điểm P, đường biên giới theo nhánh Đông Bắc, nhánh nầy chảy đến từ hướng Bắc và ở phía Tây Nam của làng Việt Nam tên An Bài安排 (An-Paii). Làng An Bài thuộc về Việt Nam.

Đường biên giới là con suối mang tên An Bài cho tới một ngọn núi (côté 955) mang tên Khanh Hoài Lĩnh坑懷嶺.

Đường biên giới thỏa thuận là trung tuyến của gịng sông và ở ḍng nước mà tàu bè có thể thông lưu được. Trường hợp tàu bè không thể thông lưu th́ đường biên giới là đường đi qua chỗ sâu nhất hay rộng nhất hoặc có nước nhiều nhất.

Trong trường hợp bị ngập lụt hay bị cạn nước, ḍng sông bị thay đổi, đường biên giới đương nhiên sẽ là đường tính theo điều kiện ghi trên. Nếu có những cù lao hay dăi cát xuất hiện, chúng ở phía nào th́ chủ quyền sẽ thuộc về quốc gia đó.

Dọc theo những ḍng sông biên giới cột mốc sẽ được đóng ở cả hai phía, tại những địa điểm người ta thường qua lại, hay đối diện với những địa hạt quan-trọng, hay tại những điểm hợp lưu của những ḍng sông. Tại những nơi khác của ḍng sông biên giới, các cột mốc sẽ đóng mỗi lúc một xa và xen kẻ ở mỗi bên bờ.

Trong những đoạn mà đường biên giới đi ngang qua những đỉnh núi cao, sẽ chỉ có một cột mốc được đóng mà hai bên mặt của cột nầy mang những ghi chú của mỗi nước. Các cột mốc mang một con số thứ tự, tiếp theo những cột mốc đă cắm ở phần thứ nhất.

2/ Từ Khanh Hoài Lănh坑懷嶺, đường biên giới theo hướng tổng quát Đông Tây.
Đường biên giới bắt đầu hướng chút ít về Tây Nam và đến sông 大坑尾 Đại Khanh Vĩ (Ta-Kang-Ouei), rồi theo hướng Tây, cắt các ḍng sông 小坑尾 Tiểu Khanh Vĩ (Siao-Kang-Ouei) và Mă Song 馬雙 (Ma-Choang).

Tại điểm nầy, đường biên giới hướng chút ít về Tây Nam, qua đỉnh núi Thanh Long Lănh 青龍嶺 (T’ang Loung Ling, côté 843), rồi trở lại hướng tổng quát Đông Tây và đến sông Phi Lao.

Sông Phi Lao 披勞 trở thành đường biên giới, để lại Trung Hoa phía hữu ngạn các làng Phi Lao, Bản Hưng 本興 (Pan Hing) , Na Niệp 那捻( Na Ku) ; và để lại Việt Nam phía tả ngạn, làng Cúc Li 菊涖 (Ku-Li).

3/ Đường trung tuyến của ḍng sông Đông Mô 洞謨 (Toung Mou), tức là sông Tiên Yên, là đường biên giới cho tới phía bắc của làng Đông Mô.

Những làng Bồ Nam 蒲楠 (Bou Nam), Khôn Văn 坤文 (Kw’an Ouen), Động Trung 峝中 (Toung Tchoung) thuộc về Trung Hoa ; những làng Na Bô 那簿 (Na-Pou), Dinh Kiều 營 叫 (Yng Kiao), Bản Sầm 本岑 (Penn Chin), Đông Phê洞批 (Toung Pi) và Đông Mô 洞謨 (Toung-Mou) th́ thuộc về Việt Nam.

Đường biên giới sau đó là sông Na Sa 那沙 (Na-Cha), phụ lưu phía hữu ngạn của sông Tiên Yên, chảy qua phía Đông làng Na Sa và phía Tây làng Đông Xă 洞舍 (Toung-Sié).

Na Sa thuộc về Việt Nam và Đông Xă thuộc về Tàu.

Đường biên giới sau đó là cũng là phụ lưu nói trên cho tới giao điểm của sông nầy với con suối mà nguồn của nó cách Trịnh Tường呈祥 (Tcheng-Siang) 500 m ; đường biên giới theo ḍng suối nầy từ giao điểm cho tới nguồn của nó. Tại đây đường biên giới theo đường thẳng cho tới Bắc Cương Ải北崗, đi ngang qua các đỉnh 675, 812 và 746 về phía Tây Bắc Tŕnh Tường.

Làng Tŕnh Tường thuộc về Việt Nam ; các làng Vệ Tàm 衞慙 ( Shu-Tan) và Kiểu Tào 矯曹 (Kiao Tsao) th́ thuộc về Trung Hoa.

Tại đỉnh 746, đường biên giới theo đường thẳng đến đỉnh đèo 662, gặp cột mốc số 67 thuộc biên-giới Quảng Tây.

4/ Vị trí các cột mốc trên lănh thổ Việt Nam :

Cột số 11 : Tại nơi giáp phát của sông Gia Long 加隆
Chuẩn độ Phương vị từ :
Đồn Bắc Thị (angle N.E.) 317°
signal a 51°
Cột số 12 : Đối diện Na Lang 那浪 (Na-Loung).
Chuẩn độ phương vị từ:
Blockhaus de Nam-si (angle N.E.) 286°
signal d 328°
Cột số 13 : Phía Đông Nam của đồn Trung Hoa Tam Tá 三左 (Sann Tao), va ở phía Bắc của nông trại Đại Đông Điền 大峝田 (Ta Tiong T’inn).
Chuẩn độ phương vị từ: signal l 29°
Cột số 14 : Đối diện hợp lưu của nhánh Tây Nam của sông Gia Long và nhánh Tây Bắc Na Lưu 那流 (Na Liou)
Cột số 15 : Trên vàm phía Tây của hợp lưu sông Gia Long với con suối Vấn Tả 文冩 (Ouen Tou).
Cột số 16 : Phía Đông Nam An Bài安排 (An Pai), trên đồi nhỏ nh́n xuống hợp lưu các nhánh nhỏ của sông Gia Long.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Khanh hoài Lănh 95°
Đồn Bắc Phong Sinh 290°
Cột không ghi số : Được thay thế bằng một tảng đá thấy rất rơ ở trên đỉnh Khanh Hoài Lănh, trên đó có khắc những ghi chú chung của hai nước.
Cột chung số 17 : Cắm trên ṿm ở phía Đông của ḍng sông Đại Khánh Vĩ 大坑尾 (Ta Kang Ouei), cách 1000 m về phía Đông Nam của Khanh Hoài-Lănh 坑懷嶺.
Chuẩn-độ phương-vị từ:
Đỉnh Nam Vân Lănh 南雲嶺 ( Nan Yun Ling) điểm Tam giác đạc :
cote 1157 328°
Đỉnh Khanh Hoài Lănh 119°
Cột chung số 18 : Cắm trên ṿm phía Tây của sông Đại Khánh Vĩ.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Tiểu Khánh Lănh 小坑嶺 (Siao Kang Ling)
Điểm Tam Giác Đạc (point de triangulation) cote 517 187°
Đỉnh Khanh Hoài Lănh 105°
Cột chung số 19 : Trên vàm phía Đông của sông Tiểu Khánh Vĩ 小坑尾 (Siao Kang Ouei).
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Nam Vân Lănh 47°
Đỉnh Khanh Hoài Lănh 99°
Cột chung số 20 : Trên đỉnh của ngọn núi phân chia thượng nguồn của sông Tiểu Khánh Vĩ và sông Ma Song.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Khanh Hoài Lănh 101°
Đỉnh Tiểu Khánh Lănh 145°
Cột chung số 21 : Phía Bắc của hợp lưu sông Ma-Song với một phụ lưu tây ngạn.
Cột chung số 22 : Trên đỉnh Thanh Long Lănh 青龍嶺 (Te’ing Loung Lin) cote 843.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Lộc Lang Lănh 禄嫏嶺 (Lou Teng Ling) 149°
Đỉnh Trường Nhị 長二 (Tchang Eurl) 204°
Cột số 23 : Tại hợp lưu sông Bi Lao với một phụ lưu nhỏ ở phía tả ngạn.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Trường Nhị 166°
Đỉnh Thanh Long Lănh 85°
Cột số 24 : Tại điểm hợp lưu của sông Phi Lao 披勞 với một chi nhánh nhỏ bên tả ngạn, trên một cái đồi nhỏ nh́n xuống hai sông nầy.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Cô Mạ Lănh 姑罵嶺 (Cao Pa Ling) point de triangulation coté 960 314°
Đỉnh Cao Ba Lănh (Kiou Pang Ling) 9°
Cột số 25: Tại hợp lưu sông Bi-Lao, phía Nam của làng Trung Hoa Cổ Phiêu 姑漂 (Kou-Piao).
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Cổ Ma Lănh 18°
Đỉnh Lạp B́nh Lănh 垃甁嶺 côté 551 286°
Cột số 26 : Phía Bắc của làng Cúc Lỵ 菊蒞 (Ku Li) cách 360 m hợp-lưu của sông Tiên Yên với một phụ lưu tả ngạn.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Lạp B́nh Lănh (K’iou Pin Ling) cote 551 205°
Đỉnh Cô Mạ Lănh 101°
Cột số 27 : Cách làng Na Phố 那浦 (Na Pou) 240 m về hướng Đông Nam
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Cô Mạ Lănh 106°
Đỉnh Lạp B́nh Lănh 180°
Cột số 28 : Cách làng Bản Sầm 本岑 (Penn Ch’in) 360 m về hướng Đông Bắc.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Lạp B́nh Lănh 107°
Cote 327 (hướng Đông Bắc của đồn Hoàng Mô) 226°
Cột số 29 : Trên khu rừng phía bắc của hợp lưu các sông Đông Mô và Na-Sa.
Chuẩn độ phương vị từ:
Cote 327 85°
Đồn Hoàng Mô (phía Tây) 28°
Cột số 30 : Cách làng Na Sa 那沙 60 m về phía Đông Nam.
Chuẩn độ phương vị từ:
Cote 327 65°
Đồn Hoàng Mô (phía Tây) 343°
Cột chung số 31 : Cách Tŕnh Tường 呈祥 (Tcheng Siang) 600 m về hướng Đông.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đồn Hoàng Mô 347°
Đỉnh Đông Lánh Lănh 東另嶺 (Toung Linh Ling) cote 763 210°
Cột chung số 32 : Cách làng Tŕnh Tường 1160 m về hướng Bắc Tây Bắc .
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Đông Lánh Lănh 176°
Đỉnh Phá Lai Lănh (Pa Lai Ling) cote 895 73°
Cột chung số 33 : Trên đèo, khoảng giữa côtes 746 và 750, cách thung lũng Bắc Cương Ải 340 m, về hướng Nam.

5/ Vị trí các cột mốc trên lănh thổ Trung Hoa :

Cột số 11 : Tại điểm hợp lưu của sông Gia Long 加隆
Chuẩn độ phương vị từ:
Đồn Bắc Thị (góc đông bắc) 11°
signal a 51°
Cột số 12 : Đối diện Lục Chân 六真 (Lou Chan).
Chuẩn độ phương vị từ:
signal b 84°
signal g 22°
Cột số 13 : Ở phía Đông Bắc đồn Pháp tên Niệm Thị 捻市 (Yen Che).
Chuẩn độ phương vị từ:
Đồn Nam Si (Blockhaus de Nam-Si) (góc Đông-Bắc) 307°
signal d 55°
Cột số 14 : Tại hợp lưu sông Gia Long với sông phía Đông của Thán sản (T’ann San).
Chuẩn độ phương vị từ:
Blockhaus de Nam Si (góc Tây Bắc) 31°
signal q 343°
Cột số 15 : Ở tại hợp lưu của hai nhánh Tây Bắc và Đông Nam, phía hữu ngạn của nhánh gọi là Na Lưu 那流 (Na Liou).
Cột số 16 : Ở vàm phía trên nơi hợp lưu của sông Gia Long và suối An Bài.
Chuẩn độ phương vị từ:
Khanh Hoài Lănh 277°
Đồn Bắc Phong Sinh (góc Tây Bắc) 292°
Cột số 23 : Tại giao điểm của đường biên giới và sông Phi Lao, bên bờ hữu ngạn.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Thanh Long Lănh 74°
Đỉnh Cao Ba Lănh 342°
Cột số 24 : Cách Phi Lao 180 m về hướng Tây Nam.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Cao Ba Lănh 23°
Đỉnh Cô Mạ Lănh (Kou ma Ling) point de triangulation cote 960 339°
Cột số 25 :
Đỉnh Cô Mă Lănh 99°
Đỉnh Lạp B́nh Lănh (Kieu Pin Ling) 191°
Cột số 26 : Cách làng Việt Nam Dinh Khiếu 營叫 (Yng Kiao) 400 m về hướng Tây.
Đỉnh Cô Mạ Lănh 92°
Cote 327 249°
Cột số 27 : Cách làng Việt Nam Đông Phê 洞批 (Toung-Pi) 720 m, về hướng Bắc, cote 305.
Chuẩn độ phương vị từ:
Cote 327 109°
Đồn Hoàng Mô (phía Đông Nam) 291°
Cột số 28 : Ở về phía Đông của hợp lưu các sông Đông Mô và Na Sa.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đồn Hoàng Mô (phía Tây) 22°
Cote 327 87°
Cột số 29 : Cách làng Việt Nam Na Sa 那沙 (Na-Cha) 380 m về hướng Đông Đông Nam.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đồn Hoàng Mô (phía Tây) 344°
Cote 327 73°
Cột số 30 : Cách làng Trung Hoa Na Xá 那舍 (Na Sié) 100 m.
Chuẩn độ phương vị từ:
Cote 327 64°
Đồn Hoàng Mô (phía Tây) 337°
Cột số 31 : Cách làng Trung Hoa Đông Xá 洞舍 (Toung Sié) 120 m.
Chuẩn độ phương vị từ:
Cote 327 22°
Poste de Hoàng Mô (cote ouest) 336°
Cột số 32 : Cách nơi hợp phát của con suối làm đường biên giới, phía Đông Nam làng Trịnh Tường.
Chuẩn độ phương vị từ:
Cote 327 22°
Khoảng cách với cột mốc ở phía Đông Nam làng Trịnh Tường : 660m
Cột số 33 : Ở tại hợp lưu của con suối đến từ làng Vệ Tàm 衛喒 (Schu-Tsan) với sông Na-Sa.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Đông Lang Lănh 60°
Khoảng cách với cột mốc phía Đông Nam Vệ Tàm 400m

Vị trí các cột mốc được ghi chú trên hai bản đồ ở phần 5.

Cột mốc vùng Quảng Đông (phía Việt Nam)

H́nh trên : kiểu mẫu cột mốc biên giới khu vực Quảng Đông, phía Việt Nam.

Cột mốc vùng Quảng Đông (phía Trung Quốc)

H́nh trên : kiểu mẫu cột mốc biên giới khu vực Quảng Đông, phía Trung Hoa.

5/ Bản đồ phân giới :

Hướng đi chính thức đường biên giới, đồ tuyến biên giới theo đề nghị của hai phái đoàn Pháp-Thanh đồng thời vị trí các mốc giới được hoạch định trên hai tấm bản đồ (từ hợp lưu sông Gia Long đến Bắc Cương Ải) do ủy ban Chiniac De Labastide thành lập sau đây :

indo ggi 65361 (03)
indo ggi 65361 (02)

6 / Diễn tiến phân giới trong thời kỳ 1890-1891 :

Tạm dịch biên bản 24-6-1890 :

Các Ủy Ban phân giới và cắm mốc sau khi lập một bản đồ chính xác của đoạn biên giới từ hợp lưu sông Gia Long加隆 cho đến Bắc Cương ải北崗隘,

Sau khi nghiên cứu, giữa hai cực điểm này, đồ tuyến biên giới giữa Trung Hoa và An Nam, tức là đoạn thứ hai của biên giới Quảng Đông,

Ủy Ban Pháp chiếu đúng theo nội dung biên bản phân định biên giới kư tại Móng Cái ngày 19 tháng 3 năm 1887, nhằm ngày mồng 5 tháng 3 năm Quang Tự thứ 13, giữa Ủy Viên Hoàng Gia Tseng và Bộ Trưởng Pháp Dillon, và chiếu theo bản đồ số 1 trên tất cả các chi tiết của nó đă được công nhận là chính xác, đă vạch đồ tuyến biên giới như sau:

I. Từ Bắc Thị 北市 và Gia Long 加隆, biên giới theo đường trung tuyến của sông Gia Long mà sông này là một phụ lưu tây ngạn của sông Bắc Thị北市.

Ở khoảng hai phần ba chiều dài, sông chia ra làm hai nhánh có cùng tầm quan trọng. Một nhánh dài độ 35 lư đến từ hướng Tây Bắc, nhánh c̣n lại có độ dài khoảng 40 lư đến từ hướng Tây Nam.

sơ đồ hướng đi biên giới 1887

H́nh trên : Sơ đồ vẽ bản đồ số 1 (bản đồ đính kèm biên bản phân định 19-3-1887)

Bản đồ số 1 chỉ có vẽ nhánh Tây Bắc, là nhánh sông có độ dài tương đương với 30 lí, được các ủy ban phân định biên giới chỉ định là chiều dài của sông Gia Long 加隆.

Sông này, đúng theo biên bản 29 tháng 3 năm 1887 và bản đồ số 1, phải là đường biên giới trên toàn thể chiều dài của nó, cũng như Ủy Ban Trung Hoa đă công nhận nó trong biên bản kư tại Thán Sản 灘散 ngày 2 tháng 3 năm 1890, nhằm ngày mồng mười tháng 2 năm Quang Tự thứ 16.

Các Ủy Ban Phân Định đă lấy đường biên giới là nhánh sông Tây Bắc cho đến nguồn của nó. Ủy Ban phân giới Pháp đă lấy điểm nguồn của sông này để làm điểm gốc cho một đường thẳng vạch đến điểm A, điểm này ở cách 3 lư về hướng Bắc ngôi chợ cũ của làng Động Trung 峝中. Đường thẳng này tạo thành đường biên giới giữa An Nam và Trung Hoa, từ điểm nguồn của sông này với điểm A (甲).

Điểm phải được lưu ư là đường thẳng này theo lẽ đi từ hướng Đông Nam đến Tây Bắc, như trên bản-đồ số 1, lại đi từ hướng Đông Bắc đến Tây Nam.

Ủy ban Pháp nh́n nhận rằng, chiếu đúng theo biên bản phân định biên giới, các địa hạt Lănh Hoài 嶺懷, Bi Lao 狓勞, c̣n được viết là Phái Lâu 派樓, Bản Hưng 扳興 thuộc về Trung Hoa; nhưng chúng lại ở phía dưới đường thẳng được nhận là đường biên giới, v́ vậy tạo thành một số các vùng đất Trung Hoa trên lănh thổ An Nam.

Một trong các vùng đất này phải nhượng lại cho An Nam, để đổi lại vùng Nam Lư 南里 của An Nam đă nhượng cho Trung Hoa, theo như biên bản kư tại Đông Hưng 東興 ngày 15 tháng 4 năm 1890, nhằm ngày 26 tháng 2 năm Quang Tự thứ 16.

Về phần trái núi Phân Mao Lănh 分茅嶺 th́ không ở về phía Đông Bắc của Bản Hưng 扳興, cũng không ở một địa phương nào trong vùng; các vụ t́m kiếm tỉ mỉ nhất cũng đă không t́m thấy, cái tên này hoàn toàn xa lạ trong dân chúng.

Chiếu theo biên bản đă ghi trên, làng Động Trung 峝中 và Na Dương thuộc về An Nam.

Làng sau cùng th́ vẽ rất sai trên bản đồ số 1, đáng lẽ nó ở về phía Nam của Động Trung 峝中 và phía Bắc của làng Tŕnh Tường, th́ lại ở Tây Bắc của Động Trung 峝中 và phía Tây Nam của Tŕnh Tường, đối diện với biên giới Quảng Tây.

II. Từ điểm A (甲)đường biên giới đi về hướng Bắc Cương Ải 北崗隘; bắt buộc bao bọc làng Tŕnh Tường thuộc An Nam, v́ vậy tạo thành một ṿng cung mà phần lồi quay về hướng Đông.

Đường biên giới đi tiếp đến, buộc phải theo địa h́nh, đỉnh 940, sau đó đỉnh 1032, bắt vào biên giới thiên nhiên cũ của An Nam và Trung Hoa, đến đỉnh 1365 của núi Kiểu Tào Sơn 矯曹山, theo lại đường biên giới cũ là một con suối cho đến Bắc Cương Ải 北崗隘.

Có vấn đề phải làm liên quan đến làng Na Dương 那陽 được trao cho An Nam. Việc nghi nhận về làng nầy được ghi ở trên.

Về ngọn núi Phái Thiên Sơn 派遷山, theo dân địa phương th́ nó ở cách nhiều ngày đường về hướng Tây chứ không phải ở vùng chung quanh Bắc Cương Ải 北崗隘. Nhưng vị trí của ải mang tên này cũng không được xác định một cách rơ ràng; nó ở khoảng 30 lí theo đường thẳng từ làng thuộc An Nam tên B́nh Liêu苹寮.

Chiếu đúng theo biên bản phân định biên giới, các làng Na Quang 那光 và Bản Thân (Thôn) 板吞 ở bên phía biên giới (đối diện với An Nam) th́ thuộc về Trung Hoa.

Việc nên ghi nhận, ngược với những chi tiết ghi trên bản đồ số 1, Bắc Cương Ải 北崗隘 theo lẽ ở về phía Tây Nam Động Trung 峝中 th́ ở phía Bắc của làng này, mà làng này ở về phía Nam chứ không phía Bắc của làng Tŕnh Tường呈祥; hướng tổng quát của đường biên giới đáng lẽ là từ Đông Bắc đến Tây Nam th́ trước hết từ Tây Nam đến Đông Bắc, sau đó từ Nam lên Bắc và cuối cùng từ Đông Bắc đến Tây-Nam, có nghĩa là hầu như đi ngược lại hoàn toàn nội dung bản đồ số 1.

sơ đồ đồ tuyến đường biên giới theo đề nghị của phái đoàn Pháp

H́nh trên : sơ đồ đồ tuyến của ủy ban Pháp.

Đồ tuyến của Ủy Ban Pháp th́ hoàn toàn đúng với nội dung biên bản phân định biên giới ngày 29 tháng 3 năm 1887, Ủy Ban Trung Hoa phản đối như sau:

I. Bắt đầu từ ngă rẽ của sông Gia Long 加隆, Ủy Ban Trung Hoa lấy đường biên giới là nhánh sông đến từ hướng Tây Nam, nhánh này không có vẽ trên bản đồ số 1, sau đó họ rời nhánh sông này trước rất xa điểm nguồn của nó, tại điểm mà thế nào đường thẳng bắt nguồn từ điểm này để đến điểm ở tại chợ cũ của làng Động Trung 峝中 có một hướng chính xác Đông Tây.

Từ chợ cũ của làng Động Trung 峝中 cho đến điểm A cách 3 lư về hướng Bắc, Ủy Ban Trung Hoa cho rằng đường biên giới là một đường thẳng từ Nam lên Bắc.

Không có tranh chấp về vị trí của điểm A (甲).

Các ủy viên Trung Hoa đă biện luận cho đồ tuyến của họ với những lư lẽ như sau:

1. Theo họ, nhánh sông Gia Long 加隆 đến từ hướng Tây Nam th́ quan trọng hơn nhánh đến từ hướng Tây Bắc; nhánh sau cùng chỉ là một phụ lưu.
2. Nếu họ không lấy biên giới là con sông cho đến tận nguồn, v́ theo họ, toàn thể chiều dài của sông chỉ có nghĩa là toàn thể chiều dài trên vùng đồng bằng; tất cả phần của ḍng sông chảy trong núi th́ không tính.
3. Nếu họ nối đến chợ cũ của làng Động Trung 峝中 mà không nối đến điểm A (甲), là điểm mà đường biên giới rời khỏi sông Gia Long 加隆, v́ dưới mắt họ, chỉ có những đường thẳng đi từ Đông sang Tây hay ngược lại. Tất cả những đường có hướng khác là những đường nghiêng.
Dựa trên căn bản này, họ nối, bằng một đường thẳng thứ hai đi từ Nam lên Bắc, từ chợ cũ Động Trung 峝中 đến điểm A (甲).

sơ đồ đồ tuyến đường biên giới theo đề nghị của phái đoàn Trung Hoa

H́nh trên : sơ đồ đồ tuyến của ủy ban Trung Hoa.

Ủy Ban Pháp phản bác một cách mạnh mẽ tất cả các chi tiết của đồ tuyến nầy, nó đi ngược lại hoàn toàn các công ước quốc tế.

1. Nói rằng nhánh Tây Nam của sông Gia Long 加隆 th́ quan trọng hơn nhánh Tây Bắc là không đúng; lưu lượng hai nhánh sông ở tại nơi hợp lưu th́ gần giống như nhau; dân địa phương chỉ định một cách bất kỳ nhánh này hay nhánh kia là ḍng chánh của con sông.

Vả lại, nhánh Tây Bắc là nhánh duy nhất hiện hữu trên bản đồ phân định số 1; cũng là nhánh mà độ dài tổng cộng của nó gần nhất với độ dài phỏng chừng được các ủy ban phân định biên giới chỉ định, như vậy không nghi ngờ nhánh này mới là đường biên giới chứ không phải nhánh Tây Nam.
2. Các Ủy Viên Pháp không thể chấp nhận lư thuyết mới cũng như lạ đời là con sông chỉ bắt đầu tính khi nào nó chảy ở đồng bằng.

Biên bản phân định biên giới chỉ định rằng sông Gia Long 加隆 là đường biên giới trên cả chiều dài của nó; như vậy là phải theo ḍng sông cho đến nguồn của nó, có nghĩa là cho đến nguồn của nhánh Tây Bắc được các ủy ban phân định nh́n nhận là đường biên giới.

3. Các Ủy Viên Pháp cũng không thể chấp nhận lư thuyết c̣n lạ hơn lư thuyết trước là những đường thẳng chỉ có thể vạch từ Nam lên Bắc hay từ Đông sang Tây, hoặc ngược lại.

Họ cũng giải thích một cách khó khăn, làm thế nào đường thẳng Đông Tây bắt đầu tại chợ cũ của làng Động Trung 峝中,cắt nhánh Tây Nam của sông Gia Long 加隆,đúng ngay tại điểm mà sông này rời núi. Đây là một sự t́nh cờ đến từ sự huyền diệu.

Các ủy Viên Pháp cho rằng sử dụng các lư lẽ và cách thức như vậy là ngăn chận mọi tranh căi đứng đắn và trung thực.

II. Giữa điểm A (甲) và Bắc Cương Ải 北崗隘, Ủy Ban Trung Hoa chỉ trích rằng đồ tuyến của Ủy Ban Pháp th́ quá ngoằn nghoèo. Họ đ̣i hỏi một đồ tuyến trực tiếp giữa hai điểm trên mà không nghĩ đến việc phải tránh làng Tŕnh Tường mà biên bản phân định biên giới đă chỉ định là của An Nam.
Về vấn đề liên quan đến làng này th́ Ủy Ban Trung Hoa cho rằng nó không phải là làng đă được biên bản phân định biên giới chỉ định. Họ đặt căn bản lên việc làng này, được gọi tên trong hồ sơ trên đây là Tŕnh Tường 呈祥, được gọi tên trong vùng là Định Tưởng 定想. Theo các Ủy Viên Thanh triều, làng Định Tưởng 定想 thuộc về Trung Hoa và phải t́m xa hơn về phía Đông làng có tên là Tŕnh Tường 呈祥 thuộc về An Nam.

Sự xác nhận nầy không đúng. Tŕnh Tường 呈祥 và Định Tưởng 定想 chỉ là một làng, đó là làng đă được chỉ định trong biên bản 29 tháng 3 năm 1887, dưới cái tên thứ nhất th́ sai, nó chỉ được biết đến qua cái tên thứ hai.

Trong những điều kiện như vậy, Ủy Ban Pháp không chấp nhận đồ tuyến do Ủy Ban Trung Hoa đề nghị, từ điểm A (甲)cho đến Bắc Cương Ải 北崗隘.

Mặt khác, các Ủy Viên Thanh triều, thuộc vùng Quảng Đông, đă cho biết ư kiến của họ rằng, họ không bận tâm đến việc phân giới từ điểm A (甲)trở đi, v́ giữa điểm này và Bắc Cương Ải 北崗隘, biên giới sẽ được ủy viên Quảng Tây phụ trách.

Ủy Ban Pháp chỉ biết ghi nhận lời tuyên bố này mặc dầu thấy rằng các Ủy Viên Trung Hoa dường như mâu thuẫn với các chi tiết địa lư được công nhận cho đến ngày hôm nay cũng như với nội dung của biên bản phân định 29 tháng 3 năm 1887.

Tóm lại, Ủy Ban Pháp giữ nguyên đồ tuyến của họ từ hợp lưu của sông Gia Long 加隆 cho đến Bắc Cương Ải 北崗隘, v́ cho rằng nó phù hợp hoàn toàn với biên bản cũng như những phần đă được công nhận là đúng trong bản đồ số 1 kèm theo biên bản nói trên.

Ủy Ban Pháp phản đối đồ tuyến do Ủy Ban Trung Hoa đề nghị v́ nó đi ngược lại hoàn toàn với công ước.

Ủy ban Trung Hoa tuyên bố giữ nguyên đồ tuyến của ḿnh và không công nhận đồ tuyến của Ủy Ban Pháp.

Trong các điều kiện này, sự thỏa thuận không thể đạt được giữa hai Ủy Ban, họ cùng biểu quyết, trong một thỏa ước chung, hai bên sẽ đệ tŕnh vấn đề lên Tổng Lư Nha Môn và Đặc Sứ Pháp tại Bắc Kinh để giải quyết. Hai ủy ban chia tay và chờ đợi sự quyết định chung cuộc.

Dầu vậy, trước khi rời các Ủy Viên Trung Hoa, Ủy Ban Pháp làm một bản tuyên bố như sau:

Sự so sánh bản đồ thứ 1, đoạn từ nguồn phía Bắc của sông Gia Long 加隆 đến Bắc Cương Ải 北崗隘,với bản đồ được lập lên để dùng vào việc phân giới do các trắc địa viên thuộc ủy ban Pháp thiết lập, cho thấy những chi tiết trong bản đồ số 1 hoàn toàn sai với thực tế.

Trên bản đồ số 1, do các nhà địa dư Trung Hoa vẽ mà các Ủy Viên Pháp tin tưởng và không thể kiểm chứng lại, Động Trung 峝中 được đặt cách hơn 25 cây số, khoảng 45 lí, về phía Bắc của vị trí thật sự của nó.

Như thế theo bản đồ, đường biên giới theo đường thẳng bắt đầu từ nguồn Bắc của sông Gia Long đi về hướng Tây Bắc, rồi sau đó trở lại hướng Đông Nam về Bắc Cương Ải 北崗隘, nhưng sự thực th́ ngược lại.

Từ nguồn Bắc của sông Gia Long 加隆 cho đến điểm A, đường biên giới theo đường thẳng từ Đông Bắc đến Tây Nam, sau đó lên lại về hướng Bắc để đến Bắc Cương Ải 北崗隘.

Lầm lẫn do bản đồ vẽ không đúng địa h́nh. Ủy Ban Phân Định Pháp tưởng rằng vùng đất đó thuộc An Nam, tạo thành một góc nhọn đâm sâu hơn 25 cây-số, khoảng 45 lí, vào Quảng Đông, nhưng trên thực tế th́ đất nầy đâm sâu vào lănh thổ An Nam như một góc nhọn.

Mặt khác, sự nghiên cứu, trên bản đồ cũng như trên thực địa, về đường biên giới qui ước, cho thấy sai lầm ở khắp nơi và v́ vậy không thể chấp nhận được.

Đường biên giới này thực ra, trên toàn chiều dài của nó, theo một con đường băng qua các sườn núi, cắt những con sông, vượt ngang đồng bằng mà không theo cách cấu tạo h́nh thể của đất đai.
V́ thế, nếu được phân giới với những cẩn trọng, việc này cũng sẽ đem lại những tranh chấp liên tục và những khó khăn về mọi mặt giữa hai cường quốc láng giềng.

V́ các lư lẽ đó, Ủy Ban Phân Giới Pháp cho rằng:

- Đường biên giới theo công ước xác định do biên bản 29 tháng 3 năm 1887 xác định th́ mọi nơi đều sai và không nơi nào chấp nhận được.

- Điều quan trọng là Ủy Ban Phân Định Pháp đă chỉ công nhận biên bản trên chỉ v́ sự tin tưởng của họ đă bị lạm dụng do một tấm bản đồ hoàn toàn sai, nó tŕnh bày một cách sai lạc rằng lănh thổ An Nam th́ tiến sâu vào lănh thổ Trung Hoa, trong lúc trên thực tế th́ ngược lại, lănh thổ của Trung Hoa lại lấn sâu vào lănh thổ An Nam.

V́ thế, yêu cầu xét lại sự phân định của đường biên giới An Nam & Trung Hoa từ hợp lưu của sông Gia Long 加隆 cho đến Bắc Cương Ải 北崗隘 và sự chọn lựa chung cuộc trên toàn chiều dài của đoạn biên giới này, là đường biên giới cũ của An Nam và Trung Hoa, duy nhất dựa trên thiên nhiên, duy nhất thuần lư, duy nhất chấp nhận được. Có nghĩa là con sông Bắc Thị 北市 từ Gia Long 加隆 cho đến điểm mà nó không thể lưu thông bằng xuồng, và từ đó cho đến Bắc Cương Ải北崗隘, là (đường nối) các đỉnh cao nhất của dăy núi.



Trương Nhân Tuấn

Tài liệu tham khảo : hồ sơ Phân định biên giới CAOM

Tập sách : Biên giới Việt-Trung 1885-2000 Lịch sử thành h́nh và những tranh chấp. NXB Dũng Châu 2005. Tác giả Nhân-Tuấn Ngô Quốc Dũng.

 

Công ước Pháp – Thanh năm 1887 và vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

altThật đáng ngạc nhiên khi hiện nay vẫn c̣n một số học giả, trong đó phần lớn là  người Trung Hoa sống ở nước ngoài, vẫn bám giữ luận điểm coi Công ước Pháp - Thanh năm 1887 như một cơ sở pháp lư quốc tế để chứng minh rằng Công ước này đă trao cho Trung Quốc chủ quyền đối với các đảo tranh chấp ở Biển Đông.

Các học giả này cho rằng Công ước Pháp - Thanh năm 1887 đă quy định “từ Quảng Đông, những điểm tranh chấp nằm từ phía Đông đến phía Tây Bắc của Móng Cái, ngoài biên giới đă được hai phái bộ (Pháp và nhà Thanh) xác định, có thể coi là thuộc về Trung Quốc. Những ḥn đảo nằm ở phía đông dọc đường kinh tuyến Paris 105°43’, có nghĩa là trục Bắc - Nam đi qua điểm phía đông của đảo Tch’a Kou hay Ouan-Chan (Trà Cổ) và làm thành đường biên giới, cũng thuộc về Trung Quốc. Các đảo Go-tho và các đảo khác nằm phía tây của đường kinh tuyến thuộc về An Nam”.

Từ quy định đó họ suy diễn rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở phía đông kinh tuyến Paris 105°43’ nên hai quần đảo này phải thuộc về Trung Quốc. Đây đơn thuần là một suy diễn lệch lạc hay là một sự cố ư coi thường lịch sử và bócp méo sự thật ?

Để có cơ sở hiểu rơ hơn đâu là sự thật của vấn đề, chúng ta sẽ cùng nhau t́m hiểu tên và nội dung của Công ước trên như thế nào? Mục tiêu của Công ước này là  ǵ? Công ước đó được kư kết trong bối cảnh như thế nào? Và Công ước này có đề cập ǵ đến các đảo mà Trung Quốc gọi là có tranh chấp ở Biển Đông hay không ?

Toàn văn tên của Công ước Pháp - Thanh năm 1887 là  “Công ước hoạch định biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ” (Convention relative à la delimitation de la frontière entre la Chine et le Tonkin). Công ước này được kư giữa Cộng ḥa Pháp (đại diện cho Bắc kỳ lúc đó) và triều đ́nh nhà Thanh ngày 26 tháng 6 năm 1987 (sau đây gọi tắt là Công ước Pháp - Thanh năm 1887).

Công ước Pháp - Thanh năm 1887 được kư kết trên cơ sở điều 3 của Hiệp ước Thiên Tân ngày 9 tháng 6 năm 1885 (sau đây gọi tắt là Hiệp ước Thiên Tân năm 1885). Điều 3 Hiệp ước này quy định: “Trong thời hạn 6 tháng kể từ khi kư hiệp ước này, các uỷ viên do các bên dự kư kết chỉ định để đến tại chỗ để công nhận đường biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ. Hai bên sẽ cắm mốc ở khắp nơi nếu xét ra cần thiết để đường biên giới được rơ ràng. Trong trường hợp hai bên không đồng ư về việc cắm mốc hay nếu có những điều chỉnh về chi tiết có thể có đối với đường biên giới hiện nay v́ lợi ích chung cho hai nước, các uỷ viên sẽ báo cáo cho chính phủ hai bên cùng biết”.

Thực hiện điều 3 Hiệp ước Thiên Tân năm 1885, các đại diện được Tổng thống nước Cộng hoà Pháp và Hoàng đế Trung Quốc cử ra đă hoàn thành nhiệm vụ khảo sát biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ và đă quyết định ghi trong Công ước Pháp - Thanh năm 1887 những điều khoản sau đây nhằm giải quyết dứt khoát việc hoạch định biên giới nói trên:

1. Những biên bản và những bản đồ đính kèm các biên bản đó đă được đại diện Pháp và Trung Quốc lập ra và kư tên, nay vẫn được chuẩn y;

2. Những điểm mà hai Uỷ ban chưa thể thống nhất với nhau được và những điều chỉnh nói trong đoạn 2, điều 3 của Hiệp ước ngày 9 tháng 6 năm 1885 được giải quyết như sau:

“Ở Quảng Đông, hai bên thoả thuận rằng các điểm tranh chấp nằm ở phía Đông và Đông - Bắc Móng Cái, ở bên kia đường biên giới như Uỷ ban hoạch định biên giới đă vạch, được phân cho Trung Quốc. Những đảo ở phía Đông dọc đường kinh tuyến Paris 105043’ đi qua kinh độ Đông của đảo Tch’a-kou hay Ouen Chou (Trà Cổ) và làm thành đường biên giới, cũng phân cho Trung Quốc. Quần đảo Cô Tô và các đảo khác nằm ở phía Tây kinh tuyến này thuộc về An Nam.

Trên biên giới của tỉnh Vân Nam, hai bên thoả thuận là con đường phân giới sẽ được vạch như sau: ..................”

Các nhà đương cục địa phương Trung Quốc và các viên chức do Tổng Công sứ Cộng hoà Pháp ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ chỉ định sẽ được giao trách nhiệm tiến hành việc cắm mốc, theo đúng các bản đồ do Uỷ ban hoạch định biên giới vẽ và kư, và theo con đường biên giới nói trên.

Kèm theo văn kiện này có ba bản đồ, mỗi bản đồ làm thành hai bản, được hai bên kư tên và đóng dấu. Trên các bản đồ này, đường biên giới mới được vẽ thành một đường đỏ và ghi trên các bản đồ của Vân Nam bằng chữ cái tiếng Pháp và các tên hàng Can - Chi Trung Quốc.

Mảnh bản đồ thể hiện đường biên giới ở Quảng Đông có vẽ một đoạn ngắn đường đỏ ở phía Bắc Vịnh Bắc Bộ, từ điểm cuối của đường biên giới trên đất liền ở Móng Cái xuống phía Nam theo đường kinh tuyến Paris 105°43’. Đoạn đường này không có điểm kết thúc và được kèm theo chú thích là “tạo thành đường biên giới”.

Như vậy, căn cứ vào tên của Công ước Pháp - Thanh năm 1887 và nội dung của Công ước này chúng ta có thể dễ dàng nhận rơ:

- Đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Công ước Pháp - Thanh năm 1887 là đường biên giới trên đất liền giữa Trung Quốc và Bắc Việt Nam.

- Mục tiêu chính của Công ước này là giải quyết dứt khoát việc hoạch định biên giới trên đất liền giữa Trung Quốc và Bắc Việt Nam. Mục tiêu phụ của Công ước này là quy thuộc chủ quyền đối với các đảo trong Vịnh Bắc Bộ. Công ước này không liên quan ǵ đến vùng biển nằm ngoài Vịnh Bắc Bộ, không liên quan ǵ đến các đảo ở Trung Kỳ và Nam kỳ của An Nam.

- Không có bất kỳ câu nào, chữ nào trong Công ước Pháp - Thanh năm 1887 đề cập đến các đảo mà Trung Quốc gọi là có tranh chấp ở Biển Đông. Như vậy, Công ước này không liên quan ǵ đến vùng biển và các đảo ở Biển Đông.

Đến đây, chúng ta có thể thấy rơ cách suy diễn nêu trên của một số học giả người Trung Hoa là hoàn toàn không có cơ sở. Có thể dễ dàng nhận thấy điều thiếu lô gích trong cách suy diễn của họ là họ đă tách một phần câu chữ của Công ước Pháp - Thanh năm 1887 ra khỏi đối tượng, phạm vi điều chỉnh và mục tiêu của Công ước để diễn giải câu chữ đó trong một ngữ cảnh hoàn toàn khác theo chủ định của chính họ.

Cách diễn giải nêu trên của một số học giả Trung Hoa hoàn toàn thiếu khách quan, thiếu trung thực, trái với các thông lệ quốc tế cơ bản về giải thích các điều ước quốc tế đă được pháp điển hóa trong Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước quốc tế.

Công ước Viên 1969 nêu trên quy định việc giải thích các điều ước quốc tế phải mang tính trung thực (bonne foi), phải giải thích văn bản theo nghĩa thông thường của từ ngữ dưới ánh sáng của đối tượng và mục tiêu của điều ước (điều 31). Công ước này cũng cho phép xem xét đến bối cảnh và công việc chuẩn bị trước khi kư kết điều ước trong trường hợp cách giải thích ban đầu vẫn chưa hết nghi vấn hoặc dẫn đến những kết quả giải thích khác nhau (điều 32).

Vận dụng quy định của điều 32 của Công ước Viên năm 1969, chúng ta thử t́m hiểu thêm liệu bối cảnh và công việc chuẩn bị cho việc kư Công ước Pháp - Thanh năm 1887 có điểm ǵ có thể biện minh cho cách diễn giải nêu trên của một số học giả Trung Hoa hay không.

Xét về bối cảnh, Công ước Pháp - Thanh năm 1887 được kư vào thời kỳ hậu chiến tranh Pháp - Thanh nhằm tranh giành ảnh hưởng đối với Việt Nam, với phần chiến thắng thuộc về Cộng ḥa Pháp, quân đội nhà Thanh phải rút khỏi Bắc Việt Nam (Bắc Kỳ) và công nhận sự hiện diện bảo hộ của Pháp đối với Việt Nam. Tranh thủ thế thắng, người Pháp đă thúc đẩy người Trung Hoa tăng cường quan hệ thương mại giữa hai bên, tạo thuận lợi cho Pháp chiếm lĩnh thị trường Trung Hoa (trước sự cạnh tranh của các đối thủ châu Âu khác). Trong bối cảnh đó, Pháp rất quan tâm đến xác định rơ ràng đường biên giới trên đất liền giữa Bắc kỳ thuộc Pháp với Trung Hoa để hỗ trợ cho quan hệ thương mại. Không có chứng cứ lịch sử nào cho thấy hai bên quan tâm tới việc xác định rơ ràng các vùng biển và các hải đảo nằm ngoài khu vực Vịnh Bắc Bộ vào thời điểm này. Cho tới nay người Trung Quốc cũng không viện dẫn được bất kỳ chứng cứ nào như vậy.

 Xét về các công việc chuẩn bị cho việc kư kết Công ước Pháp - Thanh năm 1887, các nhà sưu tầm không t́m thấy bất kỳ tài liệu nào chứng tỏ đă có bên này hay bên kia nêu vấn đề các đảo ở ngoài khu vực Vịnh Bắc Bộ trong quá tŕnh đàm phán thỏa thuận các điều khoản cụ thể của Công ước. Nếu có những tài liệu như vậy chắc chắn các học giả Trung Quốc đă không ngần ngại để đưa ra. Điều này càng được thể hiện rơ nét hơn khi Trung Quốc đă không viện dẫn Công ước Pháp - Thanh năm 1887 để đ̣i hỏi chủ quyền đối với các đảo ven bờ nằm rải rác trên vùng biển Trung Kỳ và Nam Kỳ của An Nam (Việt Nam) và nằm ở phía Đông đường kinh tuyến Paris 105043’.

Năm 1932, Pháp đă có công hàm kịch liệt chống lại công hàm của Trung Quốc viện dẫn Công ước Pháp - Thanh năm 1887 để giải thích các đảo ở Biển Đông thuộc Trung Quốc. Trong công hàm của ḿnh, Pháp giải thích các điều khoản của Công ước Pháp - Thanh năm 1887 “không có mục đích nào khác là ấn định đường biên giới biển giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ ở khu vực Móng Cái, sáp nhập vào Trung Quốc một số lănh thổ và đảo nằm ở phía Đông cửa sông Móng Cái mà trước đó vốn thuộc về An Nam. Để đơn giản hóa, đường kinh tuyến Paris 105043’ đă được chọn như là một con đường phân giới. Nhưng từ lời văn của thỏa thuận thấy rơ là điều khoản này chỉ đặc biệt đề cập đến khu vực Móng Cái. Muốn áp dụng điều khoản đó cho quần đảo Hoàng Sa nằm cách khoảng 300 hải lư về phía Đông Nam sẽ dẫn tới việc nói rằng tất cả những ǵ nằm ở phía Đông của kinh tuyến Paris 105043’ là thuộc Trung Quốc. Như vậy Trung Quốc có thể yêu sách phần lớn các đảo ven bờ của Đông Dương, nhất là đảo Poulo Cecir. Các hậu quả vô lư của lập luận như vậy chứng tỏ rằng chỉ có thể cho điều khoản của Công ước Pháp - Thanh năm 1887 một giá trị giới hạn khu vực”.

Những phân tích trên đây chỉ có thể đưa chúng ta đến một kết luận đúng đắn duy nhất là đường Bắc - Nam chạy qua mũi phía Đông của đảo Tchá - Kou (Trá Cổ), theo đường kinh tuyến Paris 105043’ đă được quy định trong Công ước Pháp - Thanh năm 1887 chỉ là đường quy thuộc các đảo trong Vịnh Bắc Bộ. Về kỹ thuật, v́ muốn đơn giản hóa cách thể hiện văn bản nên Công ước đă không kể tên tất cả các đảo. Cách thể hiện văn bản như vậy vừa nhằm tránh làm cho văn bản quá công kềnh khi phải kể tên tất cả các đảo hoặc có thể bỏ sót các tên các đảo nhỏ, vừa tránh phải quy thuộc lại mỗi khi có đảo mới được h́nh thành. Có thể nói đây là một lực chọn kỹ thuật có tính chất “nhất cử, lưỡng tiện”, vừa bảo đảm được tính bao quát, vừa bảo đảm được tính cụ thể. Đây cũng là cách thể hiện văn bản khá phổ biến trong thực tiễn điều ước quốc tế trong thời kỳ lúc bấy giờ.    

 Mặt khác, theo các tài liệu công khai về kết quả đàm phán giữa Trung Quốc và Việt Nam về phân định ranh giới các vùng biển trong Vịnh Bắc Bộ năm 2000 th́ hai nước Trung - Việt đă thống nhất xác định các vùng biển trong Vịnh Bắc Bộ theo một ranh giới hoàn toàn khác với đường kinh tuyến 105043’ và cũng không có tài liệu nào nhắc tới hoặc bảo lưu đường kinh tuyến Paris 105043’ đối với các đảo ven bờ nằm rải rác trên vùng biển miền Trung và miền Nam Việt Nam và nằm ở phía Đông đường kinh tuyến Paris 105043’. Như vậy, có thể khẳng định bằng việc kư Hiệp định phân định các vùng biển trong Vịnh Bắc Bộ năm 2000 hai nước Trung – Việt đă chính thức coi đường kinh tuyến Paris 105043’ được quy định trong Công ước Pháp - Thanh năm 1887 chỉ là đường quy thuộc các đảo trong Vịnh Bắc Bộ mà thôi.

Kết luận:

Những phân tích trên đây đă làm sáng tỏ sự thật lịch sử không thể tranh căi là việc viện dẫn Công ước Pháp – Thanh năm 1887 để khẳng định rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường thuộc về Trung Quốc là không có cơ sở pháp lư và thực tiễn./.

Công Lư - Duy Thành


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

****************************************************************************

Công ước Pháp-Thanh 1887

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

 

Bản đồ địa giới Bắc Kỳ năm 1879, tức tám năm trước Công ước Pháp Thanh lấy sông Dương Hà (sông An Nam Giang) làm biên giới giữa tỉnh Quảng Yên tỉnh Quảng Đông. Sau năm 1887 th́ biên giới chuyển xuống phía nam, lấy cửa sông Bắc Luân ở Hải Ninh (Móng Cái) làm địa giới

Công ước Pháp-Thanh 1887 hay c̣n có tên là Công ước Constans 1887 được thực hiện giữa Pháp và nhà Thanh nhằm thi hành Điều khoản 3 của Ḥa ước Thiên Tân 1885 mà hai bên đă kư năm 1885. Nội dung của công ước này nhằm phân chia lại đường biên giới giữa Bắc Kỳ Trung Quốc.

Trong quá tŕnh hai bên tiến hành phân chia đường biên giới; đại diện nhà Thanh là Lư Hồng Chương đă nói với với đô đốc Pháp Rieunier: nước Pháp đă đạt được nhiều quyền lợi khi chiếm được Bắc Kỳ, một nước chư hầu của Trung Hoa 600 năm nay; việc này là nhờ trung gian của tôi. Nó đă gây cho tôi nhiều phiền phức; tôi nghĩ rằng một sự đền bồi dưới dạng nhượng vài vùng đất nhỏ trên vùng biên giới là cần thiết.

Pháp nghe nói và cũng muốn để cho Trung Hoa công nhận sự chiếm đóng Bắc Kỳ của Pháp và không gây khó khăn nên đă nhân nhượng và thực hiện như sau:

 

 

Nội dung chính

Biên giới trên đất liền

  1. Cắt 3/4 đất tổng Tụ Long thuộc tỉnh Hà Giang, có diện tích 750km2 cho tỉnh Vân Nam - Trung Quốc

  2. Cắt 9 xă rưỡi thuộc tổng Kiền Duyên và Bát Tràng thuộc tỉnh Quảng Yên cho tỉnh Quảng Đông - Trung Quốc

Biên giới trên biển

Mũi Bạch Long (Paklung) trên bản đồ 1888 bị cắt cho nhà Thanh

Các đảo ở về phía Đông của đường kinh tuyến đông 105 độ 43 phút Paris, có nghĩa là đường thẳng Bắc-Nam đi qua đông điểm của đảo Trà Cổ và tạo thành đường biên giới th́ thuộc về Trung Quốc

Việc thực thi

Sau khi những nhượng bộ của Pháp dành cho Trung Quốc về đường biên giới trên đất liền và biển, việc thực thi được thực hiện bởi đại diện của hai bên là Ernest Constans - Đặc sứ của Cộng hoà Pháp tại Trung Hoa và Hoàng thân Kinh - Chủ tịch Tổng lư nha môn nhà Thanh, kư tên trong trong biên bản những chi tiết sau đây để giải quyết dứt khoát sự phân định đường biên giới:

  1. Các biên bản và các bản đồ kèm theo đă được các uỷ ban Pháp-Trung thiết lập và kư tên th́ được công nhận

  2. Các điểm mà tại đó hai Uỷ ban đă không thể giải quyết và những sửa đổi được phê duyệt qua phần 2 của công ước 9 tháng 6 th́ được giải quyết như sau:

  • Tại Quảng Đông, hai bên thoả thuận rằng những điểm tranh chấp ở về phía Đông và phía Đông Bắc Móng Cái, những điểm này ở phía bên kia của đường biên giới đă được uỷ ban phân định xác định th́ chúng được giao cho Trung Hoa

  • Những ḥn đảo ở về phía Đông của đường kinh tuyến Paris 105 độ 43 phút kinh độ Đông, có nghĩa là đường thẳng Bắc Nam đi qua đông điểm đảo Trà Cổ và tạo thành đường biên giới cũng được giao cho Trung Hoa

  • Các đảo "Go Tho" (đảo Cô Tô) và những đảo khác ở về phía Tây của đường kinh tuyến này th́ giao cho Bắc Kỳ

Hiệp định được thực thi của hai bên gồm có các tài liệu

  • Nội dung bản công ước

  • Bản đồ phân định lănh hải khu vực vịnh Bắc Bộ giữa Bắc Kỳ và Quảng Đông

  • Bản đồ phân định lănh thổ giữa Bắc Kỳ với Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam

Trên các bản đồ phân định có chữ kư đại diện của hai bên, bên góc trái là của Pháp, bên góc phải là của Trung Hoa

Tham khảo

  • Bang giao Đại Việt, triều Nguyễn - NXB Văn Hoá Thông Tin, 2005

Xem thêm

 

Tranh chấp Trường Sa - Hoàng Sa:
Sự nhầm lẫn có chủ ư về Hiệp ước Pháp-Thanh 1887
,

(VietNamNet) - Trung Hoa ngày xưa đă viện dẫn Hiệp ước Pháp – Thanh kư năm 1887 để khẳng định rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về ḿnh. Sau này, phát ngôn viên của Trung Quốc và các tác giả Trung Quốc đều nhiều lần dùng Hiệp ước này để khẳng định Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc.

Phần 1: Chủ quyền lịch sử không thể chối căi của VN

Thực sự, Hiệp ước này không phải là hiệp ước phân chia những đảo ở ngoài xa khơi (high sea) giữa toàn bộ nước Việt Nam và Trung Hoa mà chỉ ấn định biên giới giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa. Ngày nay, trong những cuộc đàm phán, Trung Quốc không nhắc đến Hiệp ước này nữa. Nhưng cho đến hiện tại, không ít các tác giả mà phần lớn là những tác giả Trung Hoa sống ở nước ngoài viết về vấn đề này, vẫn viện dẫn Hiệp ước 1887 như một trong những lư lẽ chính để chứng minh là hai quần đảo thuộc về Trung Quốc.

 

 

Trung Quốc một mặt nói rằng Hiệp ước 1887 áp dụng cho Hoàng Sa và Trường Sa, là những đảo nằm ngoài khơi xa, nhưng mặt khác, khi bàn về biên giới vùng Bắc Bộ th́ Trung Quốc lại khẳng định rằng Hiệp ước này chỉ phân chia “những đảo ở vùng Bắc Bộ”, chứ không phải là biên giới biển. Ảnh: Phạm Tuấn

 

Và một số các tác giả phương Tây, có lẽ v́ ảnh hưởng dây chuyền, dùng những bài viết trên, nên cũng kết luận là Hiệp ước này trao cho Trung Hoa chủ quyền trên các đảo tranh chấp. V́ vậy, thiết tưởng cũng nên làm sáng tỏ sự lầm lẫn này, v́ ảnh hưởng dây chuyền của nó trong dư luận thế giới.

 

 

Một số tác giả trên đă trích đoạn sau đây của Hiệp ước để khẳng định chủ quyền của Trung Quốc.

“Từ Quảng Đông, những điểm tranh chấp nằm từ phía đông đến phía tây bắc của Móng Cái, ngoài biên giới đă được hai phái bộ xác định, có thể coi là thuộc về Trung Quốc. Những ḥn đảo nằm ở phía đông dọc đường kinh tuyến đông 105°43’ của Paris, có nghĩa là trục bắc-nam đi qua điểm phía đông của đảo Tch’a Kou hay Ouan-Chan (Trà Cổ) và làm thành đường biên giới, cũng thuộc về Trung Quốc. Các đảo Go-tho và các đảo khác nằm phía tây của đường kinh tuyến thuộc về An Nam.”

Các tác giả trên lư luận rằng v́ Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở phía đông kinh tuyến Paris 105°43’ nên thuộc về Trung Quốc.

Có tác giả cho rằng phải giải thích Hiệp ước theo sát nghĩa lời văn trong Hiệp ước. Thực ra, nếu giải thích sát nghĩa, th́ phải hiểu Hiệp ước 1887 là một hiệp ước phân chia biên giới giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa mà thôi, chứ không phải chia các đảo ở ngoài xa khơi (high sea, haute mer), không thuộc vùng biển của miền Bắc Việt Nam. Chỉ cần nh́n tên của Hiệp ước cũng đủ để thấy điều đó. Tên Hiệp ước là “Convention relative à la delimitation de la frontière entre la Chine et le Tonkin.”  

Hơn nữa, Công ước Vienne về điều ước quốc tế có ấn định rằng một hiệp ước phải được giải thích sát nghĩa những từ được dùng trong hiệp ước, nhưng nếu phương pháp này đưa đến một sự “vô lư hay ngu xuẩn”, th́ có thể dùng những tài liệu hoặc hiệp ước khác, có liên quan đến hiệp ước này, hoặc t́m hiểu mục đích của hiệp ước để giải thích những điểm không rơ rệt.

Dựa vào những điều khoản trên của Công ước Vienne, chúng ta có thể xét Hiệp ước 1887 theo ba phương pháp: 1) xét sát nghĩa lời văn của Hiệp ước, 2) xét toàn thể bản Hiệp ước, và 3) t́m hiểu mục đích của Hiệp ước.

Xét sát nghĩa lời văn bản Hiệp ước

Việc này thật ra rất đơn giản trong trường hợp Hiệp ước 1887, như đă nói trên, chỉ cần nh́n tên của Hiệp ước trên bản chính bằng tiếng Pháp, cũng đủ thấy Hiệp ước này chỉ liên quan đến biên giới giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa. Tiếng Pháp “Tonkin” là miền Bắc Việt Nam. Trong thời thuộc địa, Pháp đă chia Việt Nam ra làm ba kỳ: miền Bắc gọi là Tonkin, miền Trung gọi là An Nam hoặc vẫn giữ tên của cả nước Việt Nam, và miền Nam gọi là Cochinchine. Các tác giả nêu trên tưởng rằng Tonkin là toàn thể nước Việt Nam.

Chữ “frontière” dùng trong Điều 2 của Hiệp ước cho thấy rơ ràng là kinh tuyến Paris 105°43’ là biên giới biển, nhưng chỉ là biên giới biển thuộc miền Bắc Việt Nam (Tonkin), chứ không phải là đường phân chia các đảo ngoài khơi xa, ngang với miền Trung Việt Nam và miền Nam Việt Nam. Hiệp ước đă ấn định rơ chiều hướng của biên giới đó là hướng bắc nam, và nó kéo ngang góc đông của đảo Trà Cổ. Và v́ đây là biên giới giữa Tonkin và Trung Hoa nên phải hiểu biên giới này chấm dứt ở điểm nào ngang với ranh giới mà trước kia Pháp đă ấn định giữa Tonkin và Annam (tức là ranh giới giữa miền Bắc Việt Nam và miền Trung Việt Nam).

Việc ấn định biên giới giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa cũng dễ hiểu nếu nh́n vào cách Pháp chia và quản trị nước Việt Nam thời đó. Nhằm thực hiện chính sách “chia để trị”, Pháp đă chia Việt Nam thành ba kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau. Miền Bắc theo chế độ bảo hộ, miền Trung – v́ hệ thống vua và triều đ́nh Huế vẫn c̣n (dù chỉ là tượng trưng) – nên theo chế độ tự trị, và miền Nam th́ theo chế độ thuộc địa. Ba miền được xem gần như ba xứ riêng biệt. V́ vậy, vấn đề ấn định biên giới chỉ là giữa Tonkin (miền Bắc) và Trung Hoa mà thôi, chứ không phải miền Trung hoặc miền Nam, là chuyện dễ hiểu đối với chính sách thuộc địa của Pháp thời đó. Nói tóm lại, dùng phương pháp giải thích sát nghĩa cho thấy hai chữ “Tonkin” và “frontière” chỉ rơ đây là biên giới giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa. Nó bao gồm biên giới đất và biên giới biển tức là vùng Vịnh Bắc Bộ.

Xét toàn bộ bản Hiệp ước

Toàn bộ bản Hiệp ước không có chỗ nào nói đến Hoàng Sa và Trường Sa. Toàn văn bản Hiệp ước nói đến việc kẻ biên giới giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa, và ấn định những điểm mà Uỷ ban kẻ biên giới của hai bên Pháp-Thanh không đồng ư với nhau được, đó là hai đoạn biên giới Vân Nam và Quảng Đông.

 

Phụ nữ VN ở Hoàng Sa. Ảnh chụp trước năm 1940 (ảnh trong album của Pierre Bodin, tuần báo Le Point (Pháp) ngày 4-3-1974).

Các tác giả nói trên chỉ viện dẫn đoạn liên quan tới đoạn biên giới Quảng Đông. Tuy nhiên, trước đó, Hiệp ước có nói: “Những điểm mà Uỷ ban hai bên không đồng ư với nhau được, và những điều chỉnh được dự trù ở Điều 3 của Hiệp ước 9-6-1885 được ấn định như sau: ở Quảng Đông, những điểm tranh chấp…”.

 

Sau đoạn nói đến biên giới Quảng Đông, tới đoạn ấn định biên giới Vân Nam: “Trên vùng biên giới Vân Nam, đường biên giới được ấn định như sau:…”

Nếu theo sự giải thích của Trung Hoa, là tất cả những đảo nào nằm ở phía đông của kinh tuyến Paris 105°43’ thuộc về Trung Hoa, th́ không những Hoàng Sa, Trường Sa, mà tất cả các đảo ven bờ biển Việt Nam nằm ở phía đông của kinh tuyến Paris 105°43’ đều thuộc về Trung Quốc. Sự giải thích đưa đến một kết luận “vô lư hoặc ngu xuẩn” (absurd or unreasonable) theo đúng như danh từ mà Công ước Vienne dùng. Do đó, chúng ta có thể t́m hiểu mục đích của Hiệp ước 1887 bằng cách xét các tài liệu và các hiệp ước liên quan đến Hiệp ước 1887.

Mục đích của Hiệp ước 1887

Nếu đọc bản báo cáo của ông Dureau de Vaulcomte gửi cho Bộ Ngoại giao Pháp giải thích Hiệp ước 1887, chúng ta càng thấy rơ hơn mục đích của Hiệp ước là kẻ hai đoạn tranh chấp của biên giới miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa. Hiệp ước 1887 được kư thể theo Điều 3 của Hiệp ước 1885 là một hiệp ước hữu nghị nhằm chấm dứt sự xung đột giữa hai bên Pháp – Thanh. Sau khi Pháp đưa quân đến Việt Nam th́ ba Tổng đốc: Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam cho quân vượt biên giới giữa Bắc Việt Nam và Trung Hoa. V́ vậy, để chấm dứt t́nh trạng này và văn hồi lại biên giới cũ, Pháp đă thoả thuận với Trung Hoa ở Điều 3 của Hiệp ước 1885, là hai bên sẽ lập một Uỷ ban kẻ biên giới gồm chuyên viên của cả hai bên để kẻ lại biên giới. Hiệp ước 1885 cũng ấn định là nếu có điểm bất đồng giữa chuyên viên của hai bên về bất cứ điểm nào liên quan đến việc kẻ biên giới th́ Uỷ ban này sẽ chuyển vấn đề sang cho chính quyền hai bên xét xử. Biên giới được kẻ chia ra làm ba đoạn: đoạn biên giới Quảng Tây, đoạn biên giới Quảng Đông, và đoạn biên giới Vân Nam. Việc ấn định đoạn Quảng Tây không gặp rắc rối ǵ, nhưng hai bên không thoả thuận được trong việc kẻ hai đoạn biên giới Quảng Đông và Vân Nam. Từ đó mới có Hiệp ước 1887 do hai chính quyền kư để giải quyết hai đoạn biên giới trên.

Tại Quảng Đông, sự bất đồng liên quan đến vùng Paklung (Bạch Long) và những đảo quanh đó. V́ có quân thổ phỉ từ Trung Hoa sang tập trung ở vùng này, nên Pháp đă đưa quân đến chiếm đóng. Trung Hoa phản đối, đ̣i vùng này là vùng của Trung Hoa. Do đó, mới xảy ra sự tranh chấp.

Như vậy, sự tranh chấp không liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa. Lúc đó, Trung Hoa chưa để ư đến hai quần đảo này, và Pháp cũng chưa biết rằng Việt Nam đă có chủ quyền trên hai quần đảo đó. V́ thế lúc đó chưa hề có tranh chấp trên hai quần đảo này. Cho nên, Pháp và Trung Hoa khi kư kết Hiệp ước 1887 không hề nghĩ đến hai quần đảo này. Tóm lại, mục đích của Hiệp ước 1887 là kẻ hai đoạn biên giới Quảng Đông và Vân Nam; và đường biên giới kẻ theo Điều 2 của Hiệp ước 1887 chỉ giới hạn ở biên giới miền Bắc Việt Nam và Vịnh Bắc Bộ mà thôi.

Trung Quốc một mặt nói rằng Hiệp ước 1887 áp dụng cho Hoàng Sa và Trường Sa, là những đảo nằm ngoài khơi xa, nhưng mặt khác, khi bàn về biên giới vùng Bắc Bộ th́ Trung Quốc lại khẳng định rằng Hiệp ước này chỉ phân chia “những đảo ở vùng Bắc Bộ”, chứ không phải là biên giới biển. Ngày 12 tháng 5 năm 1973, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hàn Niệm Long (Han Nian Long) đă tuyên bố điều nói trên. Như vậy, Trung Quốc tự mâu thuẫn.

>> Không thể bẻ cong sự thật về Trường Sa - Hoàng Sa!
>>  Hoàng Sa măi măi là lănh thổ thiêng liêng của VN
>> Cơ sở pháp lư xác lập chủ quyền VN tại Hoàng Sa
>> "Chủ quyền lănh thổ là không thể nhân nhượng"
>>  
Kỳ 1: Đội hùng binh của biển
>> Kỳ 2: Người dựng bia chủ quyền ở Hoàng Sa
>>Hải đội Hoàng sa (Kỳ 3): Bản hùng ca bất tử
>> Hải đội Hoàng Sa (kỳ 4): Đời đời không quên

  • Tiến sỹ Từ Đặng Minh Thu (Đại học Sorbonne - Pháp)

Phần 3: Giải quyết tranh chấp cách nào?

Cuộc tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cần phải giải quyết càng sớm càng tốt. Giải pháp hiện thời, thực tiễn nhất là đem ra khối ASEAN hoặc Liên hợp quốc để giải quyết.

**************************************

Đường Biên Giới Việt -Trung theo Hiệp định Pháp – Thanh năm 1887

Trung Quốc đang mở chiến dịch tháo dỡ toàn bộ các cột mốc bên giới cũ theo Hiệp định Pháp – Thanh năm 1887, hiện nay đang nằm sâu trong lănh thổ Trung Quốc, chiến dịch này đă được chính quyền Trung Quốc phát động vào ngày 20/07/2010.
 

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/fa/Carte_du_Tong-king_1879.JPG/300px-Carte_du_Tong-king_1879.JPG

Hàng loạt những cột mốc lịch sử quốc giới Việt – Trung có từ hàng trăm năm nay đă bị chính quyền Trung Quốc tất bật tháo gỡ đưa vào các bảo tàng lịch sử địa phương mà họ gọi là chiến dịch “bài trừ các mốc biên giới cũ”.

Mốc số 17 (đoạn Vân Nam-Hà Khẩu)

 




 


Cột mốc “Đại Nam Quốc Giới” tại Pḥng Thành, Quảng Tây

 



Khuân vác dời cột mốc quốc giới Viêt Nam- Trung Quôc đem về bảo tàng


T́m hiểu các mô h́nh mốc giới được cắm trên đường biên giới Việt – Trung theo các công ước Pháp – Thanh 1887 và 1895:

Những ngày vừa qua, trên một số trang blog và báo chí, có đăng tải một số h́nh ảnh và phụ chú theo đó phía Trung Quốc đang có phong trào đào lấy các cột mốc biên giới cắm theo công ước Pháp Thanh 1887 để đưa vào viện bảo tàng. Đây là một việc làm khuất tất v́ các cột mốc này là các di vật lịch sử, thuộc chủ quyền của hai nước Việt Nam và Trung Quốc (ngoại trừ một số mốc kép cắm dọc theo sông Ka Long ở vùng giáp ranh Móng Cái). Phía Trung Quốc không thể đơn phương tự tiện lấy các mốc này làm của riêng.

Tuy nhiên, không thể loại trừ trường hợp Hiệp ước phân định biên giới mà hai bên Việt-Trung kư năm 1999 đă làm thay đổi đường biên giới lịch sử, khiến những cột mốc này nằm sâu vào trong lănh thổ Trung Quốc. Nếu các mốc này đă nằm sâu trong lănh thổ của TQ th́ họ có thể có quyền làm các việc này.

[...]
Trong bài viết nhỏ này người viết mô tả sơ lược về h́nh thể và nội dung của các cột một được cắm theo công ước 1887. Từ đó, mọi người có thể quan sát các tấm h́nh các mốc bị đào lên (được đăng trên BBC hay blog Phạm Viết Đào), để có thể đoán cột mốc ấy ở đâu, vùng nào, từ đó suy luận đường biên giới ở các nơi đó phía VN có bị thiệt hại hay không.

Đường biên giới giữa hai nước Việt-Trung đă được phân định rơ rệt theo hai công ước: 1/ Công ước phân định biên giới giữa Trung Hoa và Bắc Kỳ (Convention relative à la délimitation de la frontière entre la Chine et le Tonkin) do ông Constans kư tại Bắc Kinh ngày 26 tháng 6 năm 1887 và 2/ Công ước bổ túc do ông Gérard cũng kư tại Bắc Kinh ngày 20 tháng 6 năm 1995.

Người Pháp thay mặt triều đ́nh nhà Nguyễn kư kết với nhà Thanh (Trung Hoa) các kết ước này chiếu theo tinh thần điều 1 của Hiệp ước bảo hộ (Traité Protectorat): “L’Annam reconnaît et accepte le Protectorat de la France. La France représentera l’Annam dans toutes ses relations extérieures. Nước An Nam nh́n nhận và chấp nhận sự bảo hộ của nước Pháp. Nước Pháp sẽ đại diện cho An Nam trong mọi liên hệ với các nước khác”.

Theo “Convention sur le Droit des Traité de Vienne – Công ước về Luật của các kết ước kư tại Vienne (thủ-đô Áo-Quốc) ngày 29 tháng 5 năm 1969 – (Vienna Convention on Succession of States in respect of Treaties): một nước có thể ngưng thi hành một kết ước đă kư cũng như có thể hủy bỏ toàn bộ nội dung các kết ước nầy do tính bất b́nh đẳng của nó (trường hợp các kết ước kư dưới thời một nước bị bảo hộ). Tuy nhiên, Điều 11 của Công ước Vienne có nội dung:

“Boundary regimes: A succession of States does not as such affect: (a) a boundary established by a treaty; or (b) obligations and rights established by a treaty and relating to the regime of a boundary.”
“Thể lệ về biên giới: Một sự kế tục của Quốc Gia không đặt lại vấn đề về: a) biên giới xác định do một hiệp ước và b) nghĩa vụ và quyền lợi xác định do một hiệp ước có liên hệ với một thể lệ về biên giới.”

Điều nầy cho thấy, trên quan điểm công pháp quốc tế, các kết ước về biên giới Việt-Trung kư giữa Pháp và nhà Thanh năm 1887 và 1895 vẫn c̣n giá trị pháp lư, nếu hai bên Việt-Trung không có các kết ước khác thay thế. Mặt khác, ngoài một số địa phương đă bị Pháp nhượng cho Trung Hoa để được quyền lợi về kinh tế, đường biên giới này thể hiện thực tế lịch sử giữa hai nước Việt-Trung từ nhiều ngàn năm qua.

Nhà nước CSVN đă kư lại Hiệp ước phân định biên giới trên đất liền với Trung Quốc vào tháng 12 năm 1999 v́ nhiều lư do: “Do lời văn công ước 1887 mô tả đơn giản, không rơ ràng, do nội dung không phù hợp với thực địa, bản đồ tỷ lệ nhỏ, nhiều địa danh, khu vực không thể hiện… nhiều khu vực chưa được phân giới cắm mốc hoặc cắm mốc quá thưa. Ngoài ra, qua hơn trăm năm, hệ thống mốc cũng bị hư hại, xê dịch, phá hủy do chiến tranh và thời gian…”
Những lư do này đưa ra th́ phù hợp với thực tế. Nhưng việc có cần phân định lại biên giới hay không và phân định trên căn bản nào th́ c̣n nhiều điều cần bàn luận (nhưng không phải là chủ đề viết ở bài này).

Việc phân định lại biên giới năm 1999 làm vô hiệu hóa hiệu lực các kết ước lịch sử 1887 và 1895 về biên giới.

Nhưng theo điều I của hiệp ước 1999: “Hai Bên kư kết lấy các Công ước lịch sử về biên giới hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc làm cơ sở, căn cứ vào các nguyên tắc luật pháp quốc tế được công nhận cũng như các thỏa thuận đạt được trong quá tŕnh đàm phán về vấn đề biên giới Việt – Trung, đă giải quyết một cách công bằng, hợp lư vấn đề biên giới và xác định lại đường biên giới trên đất liền giữa hai nước.”

Các công ước lịch sử liên quan đến biên giới hai nước chỉ gồm có hai công ước 1887 và 1895. Theo nội dung điều I, đường biên giới 1999 như thế sẽ trùng hợp với đường biên giới 1887 ở những đoạn (hay điểm) mà nó thể hiện rơ ràng. Dĩ nhiên ngoại trừ những đoạn (hay điểm), mặc dầu thể hiện rơ ràng trên thực địa, nhưng đă được dời đổi theo các “thỏa thuận đạt được trong quá tŕnh đàm phán” giữa hai bên Việt-Trung.

Các mốc giới được cắm theo các công ước Pháp-Thanh có nhiều mô h́nh khác nhau. Tùy theo (a) vùng biên giới, (b) thời kỳ cắm mốc, hay (c) đoạn biên giới mà h́nh thức các mốc giới hoàn toàn khác nhau.

(a) Vùng biên giới:

Có ba vùng biên giới: vùng tiếp giáp các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam. Ở thời kỳ phân định và cắm mốc 1885-1897, vùng tự trị Choang tỉnh Quảng Tây chưa thành lập. Phủ Khâm Châu thuộc tỉnh Quảng Đông.

- Vùng biên giới thuộc tỉnh Quảng Đông: bắt đầu từ biển (Trúc Sơn-Trà Cổ) cho đến Bắc Cương Ải.

- Vùng biên giới thuộc tỉnh Quảng Tây: từ Bắc Cương Ải cho đến “Nham Động Hà Ca” là giao điểm hai vùng biên giới Quảng Tây và Vân Nam.

- Vùng biên giới thuộc tỉnh Vân Nam: từ Nham Động Hà Ca cho đến sông Cữu Long. Theo tinh thần của công ước Gérard 1895 th́ Lào thuộc về Việt Nam.

(b) Thời kỳ phân giới: Có hai thời kỳ:1/ phân định và 2/ phân giới và cắm mốc:

- Thời kỳ phân định: Bắt đầu buổi họp phân định biên giới lần đầu tiên tại Đồng Đăng ngày 12 tháng 1 năm 1886 và chấm dứt ở ngày kư công ước 26-6-1887.

- Thời kỳ phân giới và cắm mốc: chia làm 5 thời kỳ. 1/ thời kỳ do ông Chiniac de Labastide (1889-1890) làm chủ tịch ủy ban Pháp, phân định vùng biên giới Quảng Đông. 2/ Thời kỳ do ông Frandin (1890-1891) làm chủ tịch, phân định vùng Quảng Tây. 3/ Thời kỳ do ông Servière (1892-1893) tiếp tục công tŕnh của Frandin. 4/ Thời kỳ do Galliéni (1893-1894) làm chủ tịch, kết thúc phân giới, cắm mốc và công nhận công tŕnh của các ủy ban trước (vùng Lưỡng Quảng). 5/ Thời kỳ do Pennequin (1895-1897) làm chủ tịch, phân giới, cắm mốc vùng Vân Nam và kết thúc công tŕnh phân giới toàn bộ, qua việc trao đổi giác thư (nghị định thư) công nhận đường biên giới ngày 2 tháng 10 năm 1897.

Các cột mốc cắm ở các thời kỳ 1, 2 đều là cột mốc tạm v́ lư do các viên chức phụ trách (De Labastide, Frandin…) th́ không có thẩm quyền. Các kết quả cắm mốc phải đưa về Bắc Kinh để Tổng Lư Nha Môn (tương đương bộ ngoại giao) và Đặc sứ toàn quyền Pháp phê duyệt. Các công tŕnh của ông Frandin sau này được công nhận bởi ông Galliéni, do đó các biên bản mô tả vị trí các cột mốc do ê-kíp Frandin phụ trách th́ có giá trị và hiệu lực pháp lư. Các thời kỳ sau (thời Galliéni và Pennequin), người phụ trách có toàn quyền quyết định mà không cần phải đưa về Bắc Kinh nữa.

(c) Các đoạn biên giới:

- Vùng biên giới tỉnh Quảng Đông chia làm hai đoạn. Đoạn 1 từ biển cho đến hợp lưu sông Ka Long, đoạn này trung tuyến ḍng sông là đường biên giới. Gồm có 20 cột mốc, mỗi bên có 10 cột mốc (mốc kép) được cắm dọc theo hai bờ sông, được đánh số từ 1 đến 10, theo thứ tự từ đông sang tây, do ủy ban Chiniac de Labastide thực hiện năm 1890.

Đoạn 2 từ có 23 cột mốc được cắm, theo thứ tự từ đông sang tây.
Mô h́nh cột mốc vùng Quảng Đông, cắm bên phía bờ Việt Nam:

 

http://img521.imageshack.us/img521/2273/94324432.jpg


Trên mốc có ghi chú: Frontière Sino-Annamite, 1890, Đại Nam (chữ Hán)

Cột mốc cắm phía bờ Trung Quốc:

 

http://img547.imageshack.us/img547/5489/31702153.jpg


Trên mốc ghi: Hàng giữa ghi: Đại Thanh Quốc Khâm Châu Giới. Hàng phải: Quang Tự Thập Lục Niên Nhị Nguyệt Lập (làm năm Quang Tự thứ 16, tháng hai). Hàng trái: Tri Châu Sự Lư Thọ Đổng Thư (do tri châu Lư Thọ Đổng viết).

- Vùng biên giới tỉnh Quảng Tây được chia làm hai đoạn. Đoạn 1 từ B́nh Nhi, trên sông Ḱ Cùng, cho đến biên giới Quảng Đông có 67 cột mốc, cắm từ Tây sang Đông. Đoạn thứ 2 từ B́nh Nhi đến biên giới Vân Nam có 140 cột mốc, cắm từ Đông sang Tây.

Sơ đồ mô h́nh mốc giới vùng Quảng Tây do ủy ban Frandin thực hiện:

 

http://img23.imageshack.us/img23/8651/50923185.jpg


Kư tên trên sơ đồ mốc giới là đại úy Didelot ngày 30 tháng 3 năm 1891 tại B́nh Nhi. Nội dung mốc được ghi theo h́nh sau:

 

http://img404.imageshack.us/img404/1664/22175134.jpg


Trên mốc có ghi: hàng trên chữ Pháp Frontière Sino-Annamite (Biên giới Trung-Việt). Hàng dưới chữ hán: An Nam Quốc Biên Giới. Năm 1891.

H́nh dưới đây là mô h́nh một loại cột mốc khác cắm trên vùng Quảng Tây.

 

http://img530.imageshack.us/img530/3527/45898947.jpg

 

H́nh này chụp từ cuốn “Au Tonkin et sur la frontière du Kwang-si” của Commandant Famin. Trên mốc có ghi: Trung Quốc Quảng Tây Giới.

- Vùng biên giới tỉnh Vân Nam: Trên vùng biên giới Vân Nam th́ được phân chia ra làm năm đoạn .

Vùng hữu ngạn sông Hồng, là đoạn thứ 5, được phân định lại theo công ước Gérard năm 1895. Theo công ước nầy, phần thượng Lào thuộc về Việt Nam. Từ Sông Hồng đến sông Đà (Rivière Noire) th́ không cắm mốc. Từ sông Đà đến biên giới Lào có 4 cột mốc được cắm theo thứ tự từ Đông sang Tây. Cột thứ 1 ở mệng núi Phúc Ngỏa, cột thứ 2 ở miệng núi Chỉ Sưởng, cột thứ 3 giáp Mường Sa và Mường Bun, cột thứ 4 ở cửa trại Sông Mặc Ô. Vùng nầy đă được ông Auguste Pavie, trong lúc nhận công tác nghiên cứu vùng thượng Lào để chuẩn bị cho một Quốc Gia trái độn (Etat tampon), th́ đă vẽ họa đồ. Vùng tả ngạn sông Hồng th́ được chia làm bốn tiểu đoạn. Đoạn thứ nhứt, từ hợp lưu của sông Hồng với sông Lũng Pô qua sông Nậm Thi, biên-giới là ḍng sông th́ không cắm mốc. Đoạn 1 đến sông Kosso (Qua Sách) th́ có 21 cột mốc. Đoạn hai từ sông Qua Sách đến Cao Mă Bạch có 19 cột mốc được cắm. Đoạn 3 và 4 từ Cao Mă Bạch đến biên giới Quảng Tây gồm có 24 cột mốc được cắm. Như thế tổng cộng gồm có: Từ sông Hồng đến biển có 314 cột mốc. Từ sông Hồng đến biên giới Lào có 4 cột mốc. Tức là có 318 cột mốc tất cả.

Mô h́nh cột mốc vùng Vân Nam:

 

http://img842.imageshack.us/img842/4735/57339860.jpg


Trên mốc có ghi: Hàng trên số mốc, hàng kế Chine-Annam, hai hàng (viết dọc) ở dưới bằng chữ Hán, hàng phải: Đại Pháp Quốc Việt Nam; hàng trái Đại Thanh Quốc Vân Nam.

Các cột mốc được làm bằng xi măng, vôi, gạch, đá… tùy theo có sẵn ở địa phương. Ngoài ra c̣n có một số mốc thiên nhiên làm bằng những tảng đá lớn, trên đỉnh núi hay đèo.

Kết luận:

Quan sát các cột mốc đăng trên BBC:

H́nh thứ nhất mốc có đề chữ Hán: Đại Nam. Theo ghi chú trên BBC th́ mốc này ở Đông Hưng (Quảng Tây). Thực ra mốc này là mốc kép, cắm dọc theo sông Ka Long, phía bờ Việt Nam, thuộc đoạn biên giới Quảng Đông (nay thuộc Quảng Tây) giáp ranh với Đông Hưng. Phía Trung Quốc cho người đào như thế cho thấy vùng đất này thuộc về họ, mặc dầu theo công ước 1887 là trên đất Việt Nam (nếu cột mốc c̣n ở đúng vị trí cũ).

H́nh thứ 4, chụp cột mốc số 17. Theo nội dung và h́nh dáng th́ cột mốc thuộc vùng biên giới Vân Nam như không biết đoạn nào v́ có đến 3 cột mốc cùng mang số 17 sau đây:

Đoạn thứ 1: Từ hợp lưu sông Long Bác (Lũng Pô) (龍賻) với sông Hồng (紅河) đến sông Qua Sách (戈索河)

Cột số 17: ở giữa đèo, trên đường từ Nhai Đầu (崖頭) đến Đường Tử Biên (塘子邊).

Đoạn biên-giới thứ 2: Từ Qua Sách Hà (戈 索 河 ) đến Cao Mă Bạch (膏 馬 白 ) thuộc Bắc Kỳ và Tân Nhai (新 崖) thuộc Vân Nam.

Cột số 17: đường từ Thạch Duẫn (石筍) đến Tie-Tchang.

Các đoạn biên giới thứ 3 và thứ 4: Từ Tân Nham 新 岩 (Trung Hoa) và Cao Mă Bạch 高 馬 白 (Việt Nam) đến biên giới Quảng-Tây廣 西.
Cột số 17: trên đèo, trên con đường nối Long Qua Ca 龍 戈 卡 (Trung-Hoa) với Long Cô 龍 姑 (Việt Nam).

Trong nhất thời ta không thể xác định cột mốc trong h́nh thuộc về đoạn biên giới nào, nhưng điều chắc chắn là mốc này, theo công ước 1887, th́ nằm trên biên giới và thuộc chủ quyền của hai nước.
H́nh thứ 5: mốc có ghi Đại Thanh Quốc Khâm Châu Giới. Mốc này là mốc kép, cắm dọc theo sông Ka Long, cắm ở phía bờ Trung Quốc.

Tài liệu tham khảo: Tập tài liệu “Biên Giới Việt-Trung 1885-2000 Lịch sử thành h́nh và những tranh chấp” NXB Dũng Châu, in năm 2005, của Nhân-Tuấn Ngô Quốc Dũng.
———————-
1. Như các vùng tổng Tụ Long (Hà Giang, diện tích 700km², có nhiều mỏ kim loại quí), Đèo Lương (hay Luông) (Cao Bằng, diện tích khoảng 300km²), các xă thuộc hai tổng Kiến Duyên và Bát Trang (thuộc Hải Ninh), vùng mũi Bạch Long (phía bắc Móng Cái…)

2. “Việt-Trung và Đường biên giới pháp lư, công bằng và hữu nghị”, nguồn http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/2009/01/821775/, tác giả TS Nguyễn Hồng Thao.

(Nguồn: BauxiteVietnam.)

Ḥa ước Thiên Tân (1885)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
 
Ḥa ước Thiên Tân 1885 là một thỏa ước được kư kết giữa chính phủ thuộc địa Pháp nhà Thanh năm 1885 sau Chiến tranh Pháp-Thanh nhằm tranh giành ảnh hưởng ở Việt Nam. Ḥa ước này chấm dứt chiến tranh Pháp-Thanh, buộc quân Thanh phải rút khỏi Bắc Kỳ, và công nhận nền bảo hộ của Pháp với Việt Nam. Cũng theo đó th́ Ḥa ước này chấm dứt lệ triều cống của triều đ́nh Huế ở địa vị phiên quốc đối với nhà Thanh.

 

 

Nội dung

Hiệp ước này gồm 10 điều khoản được kư kết giữa đại diện của chính phủ Pháp là thủ tướng Freycinet và đại diện của Trung Hoa là Tổng lư nha môn (tương đương thủ tướng) Lư Hồng Chương.

  • Điều khoản 1: Nước Pháp cam kết khôi phục và duy tŕ trật tự các tỉnh của An Nam giáp giới Trung Quốc. Nhằm mục đích đó, Pháp sẽ tiến hành các biện pháp cần thiết để đánh tan và đuổi các toán quân thổ phỉ và bọn bất lương đă gây tai hại đến trật tự công cộng và ngăn cản không cho chúng lập lại các tổ chức. Tuy nhiên quân đội Pháp trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được vượt biên giới Bắc Kỳ và Trung Hoa mà nước Pháp đă tôn trọng và đảm bảo tránh mọi hành vi xâm lược.

Về phần ḿnh, Trung Quốc cam kết giải tán và trục xuất các bọn thổ phỉ đang trốn tránh ở Trung Quốc và các tỉnh giáp giới với Bắc Kỳ, giải tán các lực lượng thổ phỉ t́m cách lập lại tổ chức trên lănh thổ ḿnh để gây rối trong dân chúng đang được nước Pháp bảo hộ và tôn trọng các lời cam kết liên quan đến an ninh biên giới, Trung Quốc cũng sẽ không phái quân đội của ḿnh vào lănh thổ Bắc Kỳ.

Các bên kư kết sẽ ấn định thông qua một thỏa ước đặc biệt, những điều kiện để dẫn độ bọn bất lương giữa Trung Quốc và Pháp.

Người Trung Quốc làm ăn khai khẩn hay trước đây là binh lính, hiện đang sống một cách yên ổn tại Việt Nam làm ruộng hay sản xuất công nghiệp hay buôn bán, hạnh kiểm không có ǵ chê trách. Sẽ được đảm bảo an toàn về người và tài sản như người được Pháp bảo hộ.

  • Điều khoản 2: Trung Quốc đă quyết định không làm ǵ có hại đến công việc b́nh định của Pháp và cam kết tôn trọng hiện nay và trong tương lai những hiệp ước, hiệp định và thoả ước đă kư hay sẽ kư trong tương lai giữa Pháp và An Nam.

Về quan hệ giữa Trung Quốc và An Nam, thoả thuận rằng những mối quan hệ đó không làm tổn hại đến Trung Hoa và không để xảy ra điều ǵ vi phạm hiệp ước này.

  • Điều khoản 3: Trong thời hạn 6 tháng kể từ khi kư hiệp ước này, các uỷ viên do các bên dự kư kết chỉ định để đến tại chỗ để công nhận đường biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ. Hai bên sẽ cắm mốc ở khắp nơi nếu xét ra cần thiết để đường biên giới được rơ ràng. Trong trường hợp hai bên không đồng ư về việc cắm mốc hay nếu có những điều chỉnh về chi tiết có thể có đối với đường biên giới hiện nay v́ lợi ích chung cho hai nước, các uỷ viên sẽ báo cáo cho chính phủ hai bên cùng biết.

  • Điều khoản 4: Khi biên giới đă được thừa nhận, người Pháp và dân bảo hộ của Pháp và những cư dân nước ngoài ở Việt Nam muốn đi qua biên giới để sang Trung Quốc phải có hộ chiếu do nhà đương cục Trung Quốc cấp theo yêu cầu của các nhà cầm quyền Pháp. Đối với công dân Trung Hoa cần có giấy phép của nhà đương cục Trung Hoa tại biên giới

  • Điều khoản 5: Thương nhân Pháp và dân bảo hộ của Pháp và thương nhân Trung Hoa ở Bắc Kỳ được phép nhập và xuất khẩu qua biên giới trên bộ giữa Trung Hoa và Bắc Kỳ. Tuy nhiên phải được tiến hành trên một số điểm sẽ được xác định sau này, trong đó việc lựa chọn các mặt hàng và số lượng hàng xuất khẩu sẽ tương ứng với phương hướng và tầm quan trọng của việc buôn bán giữa hai nước. Về phương diện này phải tính đến các quy định hiện hành trong nội bộ vương quốc Trung Hoa

Dù sao đă có hai điểm được chỉ định trên biên giới Trung Quốc, một ở phía Lào Kai và một điểm nữa ở Lạng Sơn. Các nhà buôn Pháp có thể ấn định những điều kiện cùng với những thuận lợi như với các cảng Trung Quốc thông thương với nước ngoài của Trung Quốc. Chính phủ Trung Hoa sẽ thiết lập các cơ sở Thương chính và chính phủ Pháp có thể lập các lănh sự với những ưu đăi về quyền hạn giống y như những nhân viên cùng loại trong các các thông thường.

Về phía ḿnh, Hoàng đế Trung Hoa cùng với chính phủ Pháp bổ nhiệm các lănh sự trong các thành phố lớn ở Bắc Kỳ.

  • Điều khoản 6: Một quy định đặc biệt gắn với hiệp ước sẽ nói rơ thêm các điều kiện về buôn bán trên bộ giữa Bắc Kỳ và các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông của Trung Quốc. Quy định này sẽ do các uỷ viên của hai bên chỉ định xây dựng nên trong thời hạn ba tháng kể từ khi kư bản hiệp ước này

Hàng hoá trao đổi giữa các tỉnh Bắc Kỳ và Quảng Tây, Vân Nam sẽ được hưởng biểu thuế thấp hơn biểu thuế xuất nhập hiện hành. Tuy nhiên biểu thuế được giảm sẽ không được áp dụng với các hàng hoá trao đổi qua biên giới trên bộ giữa Bắc Kỳ và tỉnh Quảng Đông v́ không có hiệu lực trong các cảng đă mở theo hiệp ước này

Việc buôn bán vũ khí, đạn dược, dụng cụ, đồ tiếp tế quân dụng các loại sẽ phải theo luật pháp các các quy định của các nước mỗi bên kư kết

Việc xuất nhập khẩu thuốc phiện sẽ chịu sự chi phối của điều khoản đặc biệt được nêu trong bản quy định thương mại nói trên

Việc buôn bán trên biển giữa Trung Quốc và An Nam cũng sẽ có quy định riêng, tạm thời không có ǵ mới so với cách làm hiện nay

  • Điều khoản 7: Nhằm phát triển thuận lợi các quan hệ buôn bán và láng giêng tốt mà hiệp ước này mong muốn phục hồi giữa Pháp và Trung Quốc, chính phủ nước Cộng ḥa Pháp sẽ xây các đường xá ở Bắc Kỳ và sẽ khuyến khích xây dựng các đường sắt tại Bắc Kỳ. Về phía Trung Quốc khi quyết định làm đường sắt sẽ thương lượng với ngành công nghiệp Pháp và chính phủ Pháp sẽ dành mọi thuận lợi để t́m kiếm ở Pháp nhân viên cần thiết. Điều khoản này được coi như đặc quyền dành cho Pháp

  • Điều khoản 8: Các điều khoản thương lượng của hiệp ước này và các quy định sẽ có thể xem lại sau một thời gian 10 năm tṛn kể từ ngày trao đổi thư phê chuẩn hiệp ước này. Nhưng trong trường hợp 6 tháng trước thời hạn, không có bên nào thuộc bên đă kư kết không biểu lộ ư muốn xét lại, các điều khoản vẫn c̣n hiệu lực cho một thời hạn mới 10 năm nữa và sau này cũng sẽ như thế

  • Điều khoản 9: Từ khi hiệp ước này được kư, lực lượng (quân sự) Pháp sẽ rút khỏi Ke Lung (Ka Long) và chấm dứt đi lại ngoài khơi. Trong thời hạn một tháng, sau khi kư kết hiệp ước này quân đội Pháp sẽ hoàn toàn rút khỏi đảo Đài Loan, đảo Lôi Châu

  • Điều khoản 10: Các điều khoản của hiệp ước này, các hiệp định và thỏa ước giữa Pháp và Trung Quốc không trái với hiệp ước này vẫn hoàn toàn có hiệu lực

Hiệp ước này sau khi được hoàng đế Trung Hoa phê chuẩn, Tổng thống nước Cộng ḥa Pháp phê chuẩn, việc trao đổi thư phê chuẩn sẽ được tiến hành tại Bắc Kinh trong thời gian sớm nhất

Hiệp ước kư tại Thiên Tân, lập thành 04 bản ngày 9 tháng 6 năm 1885

Tham khảo

  • Bang giao Đại Việt, triều Nguyễn, Nguyễn Thế Long, Nxb Văn hóa Thông tin, 2005

Xem thêm