<bgsound src="http://www.josephduytam.net/01.ChuaChanNuoiToi_dt(PhuongThao).mp3" loop="infinite">

 

HÙNG SỬ VIỆT-NAM

 

(Trường Ca “Hùng Sử Việt-Nam”…! Để kỷ-niệm 64 Năm

“Quốc-Khánh Việt-Nam Cộng-Hoà”….. 26-10-1954=>26-10-2018.

Với “Nền Độc-Lập” của Miền Nam Việ-Nam.)

 

Việt-Nam “Hùng-Sử” đẹp ngời;

Dân Việt quyết chiến, đánh tơi giặc Tàu…

Giữ toàn lănh-thổ “Ngọc châu.”

Truyền cho con cháu; thịnh, giàu mai sau…

Cờ “Ba Ḍng Đỏ” (1) Vàng Mầu;

Giương cao, phất-phới năm Châu uy-hùng…!

Vàng tươi khắp cả ”Ba Vùng”…

Bắc, Trung, Nam; quyết đánh bung Hán thù…!

Giữ lại “Cơ-Nghiệp” muôn Thu;

Trưng-Vương, Trinh-Triệu… diệt trừ Hán, (2) Đông…! (3: Đông-Ngô)

 

Hỡi đoàn Hậu-Duệ Lạc-Hồng;

Cùng nhau gom sức; Biển-Đông giữ-ǵn.

Toàn Dân Việt Tộc vững tin,

“Hoàng-Trường-Sa” măi hằn in Bản-Đồ;

Của “Ḍng Hồng-Lạc” thời Ngô (Quyền);(4)

Đến thời cháu chắt; “Vàng Cờ” tung bay…!

--------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(1). Cờ “Ba Ḍng Đỏ” Vàng Mầu: Đề-nghị toàn thể Đồng-Bào Việt-Nam, kể từ nay trở đi; khi nói về “Cờ Tổ-Quốc Việt-Nam”; xin mọi người chúng ta hăy trịnh-trọng tuyên xưng: “Cờ Vàng Ba Ḍng Đỏ”; thay v́ “Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ” như từ trước đến nay mọi người vẫn gọi. Nền “Vàng”: Tượng trưng cho mầu “Da Vàng” của toàn Dân Tộc Việt-Nam nói chung. “Ba Ḍng Đỏ”: Tượng trưng cho “Ba Ḍng Máu Đỏ” của Dân-Tộc Ba Miền; Bắc, Trung, Nam…! Chúng ta không thể nói: “Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ” được; v́ chữ “Sọc” ở đây không có ư nghiă ǵ hết. Hơn nữa; “Cờ Mầu Vàng” của Dân-Tộc Việt-Nam đă có từ thời Hai Bà Trưng vào Năm 40 đến 43 sau Tây-Lịch; khi Hai Bà trương “Cờ Nền Vàng; Riềm Đỏ” để điều quân; đánh đuổi và dẹp tan quân Nhà Đông-Hán (Thời vua Hán Quang-Vũ), do Thái-Thú Tô-Định cầm đầu… Hai Bà đă Thu về được 65 Thành Thị và Sau đó Xưng Vương. Đóng Đô tại Mê-Linh và tuyên-bố “Độc-Lập” với nhà Đông-Hán.(2)

(2). Trưng Nữ Vương diệt trừ Tô- Định; Nhà  Đông Hán.        (3). Triệu Thị Trinh diệt trừ Nhà Đông Ngô.

(4). “Thời Ngô”: Tức là thời Ngô-Quyền: Sinh năm Mậu-Ngọ (989), tại làng Đường-Lâm, huyện Phúc-Thọ, tỉnh Sơn-Tây (cùng làng với Phùng-Hưng). Thuộc ḍng dơi quư tộc. Cha là Ngô-Mân làm chức Châu-Mục ở bản Châu. Ông là một Tướng tài của Tiết-Độ-Sứ Dương-Diên-Nhgệ. Khâm phục tài trí của Ông, Diên-Nghệ đă gả con gái là Dương-hậu để làm vợ ( Sau trở thành Hoàng-Hậu của Ngài). Và cử làm Thứ-Sử cai trị Ái-Châu (nơi nhà Họ Dương có nhiều thế lực).  Ngô-Quyền là một Tướng tài và mưu-luợc, đă tiêu diệt được giặc nội thù là Kiều-Công-Tiễn. Đồng thời đă đánh bại và tiệu-diệt hoàn toàn đại quân Nam-Hán do Thái-Tử Lưu-Hoàng-Tháo (Con Lưu-Cung, vua Nam-Hán) lănh đạo; tại Sông-Bạch-Đằng.

Sau khi chấm dứt được 1146 năm giặc Tàu đô hộ, Ngô-Quyền bắt đầu mở ra một kỷ nguyên mới cho nền Độc-Lập của Việt-Nam kể từ Năm 939 sau Tây-Lịch. Ngài xưng là Ngô-Vương. Đóng đô tại Thành Cổ-Loa (Kinh-Đô cũ thời An-Dương-Vương). Ngài Trị v́ được 6 năm. Đến năm Giáp-Th́n (944) th́ mất. Hưởng thọ 47 tuổi.

 

Việt-Nam; Kinh, (4a) Thượng, Thái, Tày,

H’Mông, Mường, Mán, Dao (Gia)-Rai, Chăm, Nùng…

Năm mươi “Sắc-Tộc” anh-hùng;

Bao thời đoàn-kết sức chung diệt thù.

Hán, Mông; ác tặc thiên Thu…

Muôn đời xâm-chiếm… “Kẻ thù Dân Nam…!”

Dân Nam, “Dân Tộc Da Vàng”;

“Ba Ḍng Máu Đỏ”, cao-sang muôn đời…!

Đương thời; hiện-diện khắp nơi…

Á, Âu, Mỹ, Úc; vùng trời Năm Châu…

Đồng tâm tiêu-diệt “Giặc Tàu”;

Cùng Trump, (5) góp sức… phủ đầu Hán gian…!

 

Thằng Tập, là thằng làm càn;

Chủ-trương Hán hoá “Dân Nam” muôn đời.

Chiếm Rừng, Biển, Đảo khắp nơi…

Xoá nền “Văn-Hóa Ngàn Đời Dân Nam”…!

Lệnh cho Bùi-Hiền(6) sài-lang;

“Tiếng Việt Cải-Cách;” (6) âm vang… tiếng Tàu.

Hiệp cùng Hồ(Ngọc)-Đại; (7) nhâu-nhâu…

Tṛn, Vuông, Tam-Giác, Cứt-Nâu(đống cứt),(7) B́nh-Hành;

H́nh-Thoi, Giáo, Mác lanh-canh;

Búa, Liềm, Ê-Lip(ellipse), Phương(lậpphương); thành chữ ngông…!

Chim(Dương Vật),(8) Dao, Búa, Trụ(h́nh trụ), Sao lồng; (9)

Đó là loại chữ Hồ(Ngọc-Đại) ngông, Bùi-Hiền…!

“Hai Thằng” (10) xỉ-nhục Tổ-Tiên;

Xóa “Nền Văn-Hóa Thánh-Hiền” ngàn xưa…

Bọn này, nghiêm trị cho chừa;

“Tội Đồ Dân Tộc”; sao ưa được nào…!?

---------------------------------------------------

GHI CHÚ:    

(4a)- “Việt-Nam; Kinh, (4a) Thượng, Thái, Tày,”: Chữ “kinh”dùng ở đây ám-chỉ “Dân Việt-Nam” sống ở “Kinh-Đô hay các Kinh-Thành” ờ các miền đồng bằng ven biển… khác với “người Thượng; cũng là Dân Việt-Nam… Nhưng sống ở trên các vùng Cao-Nguyên Trung-Phần hay các miền đồi, núi ở Miền Bắc Việt-Nam. Người “Kinh” ở đây; không phải là “Dân-Tộc Kinh”; một sắc dân thiểu-số của dân Tàu (hay Trung-Hoa).

(5)- “Trump”: Là Tổng Thống Donald Trump quyết diệt Xă Hội Chủ Nghĩa; và Tàu cộng.

(6)- “Lệnh cho Bùi Hiền”: Tập Cận B́nh ra lệnh cho Tiến sĩ Bùi-Hiền phá Văn Hoá Việt Nam… bằng chữ viết cải-cách theo âm tiếng Tàu.    

(7)- “Hiệp cùng Hồ(Ngọc) Đại”: TS Hồ-Ngọc Đại cũng nhận lệnh âm mưu phá hoại chữ Quốc Ngữ Việt Nam bằng các h́nh ảnh: đống cứt, dương vật và các h́nh ảnh dao. búa, liềm, giáo, mác và càc h́nh về h́nh học: Tam giác, tṛn, vuông, b́nh-hành, ê-lip (ellipse).v.v…

(8)- “Hai Thằng” xỉ nhục Tổ-Tiện”: Là Bùi-Hiền và Hộ-Ngọc-Đại.

 

Ngước nh́n, Con hỏi Trời cao;

Sao Ngài nỡ để “Cờ Sao” (11) hoành-hành…!?

Chúng con Dân Việt, năm canh;

Tháng ngày quằn-quại; bởi nanh Cộng thù.

Thời gian, đă tám-tám Thu…(12)

Đến nay vẫn măi ngục tù lầm-than…!

Hồ, Linh, Mười, Trọng… bầy đàn; (13)

Đang tâm bán Nước “Cờ Vàng” thời Trưng. (14)

Trưng-Vương, Nữ Tướng anh-hùng;

Dẹp tan Tô-Định, lẫy-lừng Mê-Linh…!

Mê-Linh; một thuở Cung-Đ́nh;

Của “Ḍng Bách-Việt”; quang-vinh Lạc-Hồng…!

Tách-biệt Đông-Hán cuồng-ngông;

Xây “Nền Độc-Lập”, quần hồng nhị Trưng…!

-----------------------------------------------------------

 

Tới thời Ngô (Quyền) (15) rất anh-hùng;

Dẹp quân Nam-Hán; (15) chết chung Bạch-Đằng. (15)

Tiêu-diệt (Lưu)Hoằng-Tháo hung-hăng;

Lưu-Cung; xấu-hổ, tái xanh mặt mày…!

Ngô-Quyền, (15) dũng tướng hăng-say;

Giành về “Độc-Lập”; (15) tháng ngày b́nh-sinh.

Xưng Vương, thiết-lập Cung-Đ́nh;

Vui nền Độc-Lập; dân t́nh tung-hô…

Không c̣n sống cảnh sầu lo;

Mà là vui hưởng ấm-no, thanh-b́nh…!

------------------------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(11)- “Cờ Sao”: Là Cờ Đỏ Sao Vàng của Tỉnh Phúc-Kiến thuộc Tàu Cộng. Hồ Chí Minh mang về Việt Nam làm Đảng Kỳ của Cộng Sản Việt Nam. Về sau CSVN dùng làm cờ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà của Miền Bắc. Sau ngày 30-04-1975; được dùng cho cả Nước VN.            

(12)- “Thời gian đă tám-tám Thu”: Đảng Cộng Sản Việt Nam được thành lập kể từ ngày 03-02-1930; tính đến ngày 03-02-2018 đă làm 88 Mùa Thu (88 Năm).         

(13)- “Hồ, Linh, Mười, Trọng… Bầy đàn”:  Là Bộ Chính-Trị của ĐCSVN. Ngoài các tên Hồ-Chí-Minh, Nguyễn-Văn-Linh, Đỗ-Mười, Nguyễn-Phú-Trọng ra; c̣n có tất cả Thành-Viên trong Bộ Chính Trị; đều là những tên bán Nước, cầu vinh…!         

(14)- “Đang tâm bán Nước “Cờ Vàng” thời Trưng.”: Cờ của Nước Việt-Nam thời Trưng Nữ Vương diệt Tô- Định nhà Đông Hán năm 40 sau công-nguyên, có “Nền Vàng, Riềm Đỏ.”        

(15)- “Tới thời Ngô (Quyền) (15) rất anh-hùng;”: Năm (938), Ngô-Quyền đă dẹp tan đoàn quân viễn-chinh nhà Nam-Hán do Lưu- Hoàng-Thao (Con vua Lưu-Cung) cầm đầu… Và giết luôn kẻ nội thù là Kiều-Công-Tiễn. Sau đó, Ngài lệnh cho binh lính đóng cọc đầu nhọn bịt sắt; trên sông Bạch-Đằng. Khi triều lên, Thủy binh Hoàng-Thao hung-hăng tấn công với thái độ kiêu-căng. Ngô-Quyền giả thua lui binh. Chờ khi triều xuống, Ngô-Quyền phản công, các chiến thuyền của Hoàng-Thao bị cọc đâm thủng, quan quân bị chết hơn phân nữa, phần c̣n lại  chạy trốn về Phiên-Ngung của Nam-Hán. Riêng Hoàng-Thao bị Ngô-Quyền bắt và giết luôn.  Lưu-Cung nghe được tin, thất-kinh và nể phục.   Sau khi chấm dứt được 1146 năm giặc Tàu đô hộ, và bắt đầu mở ra một kỷ nguyên mới cho nền Độc-Lập của Việt.Nam. Ngài xưng là Ngô-Vương. Đóng đô tại Thành Cổ-Loa (Kinh-Đô cũ thời An-Dương-Vương). Ngài Trị v́ được 6 năm. Đến năm Giáp-Th́n (944) th́ mất. Hưởng thọ 47 tuổi.

Dương-Kha: Dương-Tam-Kha là em vợ của Ngô-Vương. Trước khi chết, Ngô-Quyền ủy thác cho Tướng Tam-Kha; phù giúp đưa Ngô-Xương-Ngập, là trai trưởng của Ngài lên Ngôi Vua. Nhưng Tam-Kha đă lợi dụng cơ hội cướp ngôi của cháu là Ngô Xương-Ngập. Đồng thời tự lên ngôi và xưng là B́nh-Vương (945-950). Nhưng Triều-Đ́nh, quan tướng, dân chúng không phục.

 

“Việt-Nam Hùng Sử” thời Đinh; (16)

Dẹp tan “Quân-Sứ”; Cung-Đ́nh mười hai.

“Sáu tên Thổ-Phỉ Tàu lai”:  

Siêu, Khoan, Thạc, Tiệp, Thuận, hài Minh-Công”.

Đinh(Bộ)-Lĩnh, vốn là Thần-Đồng;

Cờ Lau, gióng trống, Nhi-Đồng phục tuân.

Bày binh, bố trận rần-rần…

Trăm trận, trăm thắng; toàn dân kính nhường.

Tôn vinh làm “Vạn-Thắng-Vương”; (16)

Lớn lên, liên-kết Ngô-Vương (15) diệt thù…!

Giết Kiều-Công-Tiễn đần, ngu;

Kết-liên Nam-Hán, rước thù Lưu-Cung.

Ngô-Quyền, Bộ-Lĩnh anh-hùng;

Giết luôn (Lưu)Hoằng-Tháo; Lưu-Cung phải hàng.

Từ đây, Lịch-Sử sang trang;

Ngô-Vương dựng nghiệp, “Dân Làng” yên vui…!

Cuối thời Ngô, rất ngậm-ngùi… (17)

Ngô(Xương)-Văn, con thứ; vận xui ĺa trần! (17)

Cháu nội Ngô(Xương)-Xí (18) phân-vân;

Lên Ngôi, “Quân-Sứ”; (18) một phần mười hai.

Nước loạn; vận số an-bài…

Tướng Quân Đinh(Bộ)-Lĩnh giương oai dẹp loàn…!

Tiêu-trừ mười Tướng xấc, ngang… (19)

Ḍng Ngô: (Nhật)-Khánh, Xí; chiêu hàng trướng-quân.

B́nh-Kiều: Ngô(Xương)-Xí; Vương thần,

Con ḍng cháu dơi Triều-Thần Ngô-Vương.

Nhà Đinh v́ nể, khiêm-nhường;

Kết-thân xây-dựng: “Con Đường Việt-Nam”!

----------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(16)- “Việt-Nam Hùng Sử thời Đinh; ”: Thời Đinh-Bộ-Lĩnh: tức là vua Đinh-Tiên-Hoàng (968 - 979). Ngài đă dẹp tan 12 Sứ-Quân; trong số đó đă có tới: “Sáu Tên “thổ phỉ Tàu lai”: xưng làm Sứ Quân 6 Vùng trên toàn cơi Việt Nam lúc bấy giờ gồm có: Siêu, Khoan, Thạc, Tiệp, Thuận, hài Minh-Công.

17)- “Cuối thời Ngô, rất ngậm-ngùi…”: Sau khi Ngô Quyền mất (944), ủy thác con trưởng Ngô-Xương-Ngập cho Dương-Tam-Kha - em của Dương Hậu, vợ Ngô-Quyền. Dương-Tam-Kha lợi dụng chiếm ngôi của Ngô-Xương-Ngập. Tự xưng là Vua lấy hiệu là Nam-Binh Vương; Sợ quá, Ngô-Xương-Ngập chạy về nhà một hào trưởng là Phạm-Lệnh-Công, ở làng Trà-Hương, Nam-Sách. Ở đó Ngô-Xương-Ngập lấy Phạm-Thị-Ngọc-Dung (Uy Duyên) con gái Phạm-Bạch-Hổ và sinh Ngô-Xương-Xí. Năm 954, Ngô Xương Ngập bị bệnh thượng mă phong chết, chỉ c̣n Ngô-Xương-Văn (là Em). Lợi dụng thời cơ; Dương Tam Kha (là em vợ: Dương Hậu) cướp ngôi vua của Thái Tử Ngô Xương Ngập. Và v́ Dương-Tam-Kha không bắt được Ngô-Xương-Ngập, liền bắt em là Ngô-Xương-Văn về làm con nuôi. Nhưng Triều-Đ́nh; hầu hết quan tướng đều bất-măn chống đối việc làm của Tam-Kha. Về sau, Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi giúp Ngô Xương Văn lật đổ Dương Tam Kha, Phạm Bạch Hổ tham gia giúp Hậu Ngô Vương. Năm 965, Ngô-Xương-Văn đi đánh thôn Đường thuộc căn cứ Đường-Lâm và thôn Nguyễn-Gia-Loan thuộc phạm vi kiểm soát của sứ quân Nguyễn-Thái-B́nh bị phục binh bắn nỏ chết. Tại Cổ Loa các tướng Lă Xử B́nh, Kiều Tri Hựu, Đỗ Cảnh Thạc, Dương Huy tranh nhau làm Vua.

(18)- “Cháu Nội Ngô Xương Xí”: Ngô-Xương-Xí là con của Ngô-Xương-Ngập; cháu Nội của Ngô-Quyền. Khi lên Ngôi; v́ hế lực yếu, nên đành tự nhận làm một trong 12 Sứ-Quân; thời Đinh Bộ Lĩnh lúc bấy giờ.

(19)- “Tiêu trừ 10 Tướng xấc ngang.”: Trong số 12 Sứ Quân, Đinh Bộ Lĩnh quyết diệt trừ 10 Tướng ngang tàng, trong đó có 6 tên Tướng Tàu: Là Siêu, Khoan, Thạc, Tiệp, Thuận, hài Minh-Công.  Riêng Tướng Ngô Nhật Khánh và Vua Ngô Xương Xí; v́ là Ḍng dơi Hoàng Tộc nhà Ngô; nên Đinh Tiền Hoàng đă kết thân hoà-đàm, kêu gọi cùng hợp tác để giữ thể diện và cùng xây dựng “Con Đường Việt Nam” chung một lư tưởng.

 

 

Thắng-Vương, khí-phách phi-phàm;

Dẹp-tan loạn-lạc, hiên-ngang khắp trời.

Mậu-Th́n, (20) Bộ-Lĩnh lên Ngôi;

Đinh-Tiên-Hoàng Đế; thay thời Ngô-Vương!

Hoa-Lư, ngời-sáng phố phường;

Kinh-Đô Đại-Việt, khắp phương reo mừng.

Thoát thời nô-lệ tàn-hung;

Bởi “Giặc phương Bắc”, vô cùng ác-gian!

Giành về Độc-Lập Hồng-Bàng;

Giang-Sơn thống-nhất, an-khang kiêu-hùng!

 

Đinh(Tiên)-Hoàng, một thuở anh-hùng.

Dầy công dẹp loạn, phục-hưng “Nước Nhà”.

Muốn cho Dân, Nước an-ḥa;

Vua ban quốc-pháp, lập Ṭa an-dân.

Hầu ngăn những kẻ nghịch-thần,

Bên trong cũi-hổ, ngoài sân vạc-dầu.

Nhưng thời Đế nghiệp không lâu;

Dẫu Đinh Hoàng-Đế; mong cầu phân-minh.

Dựng xây triều-chính, cung-đ́nh;

Triều-nghi, phẩm-tước, công-minh rỏ-ràng.

Ư Ngài muốn nước Việt-Nam;

Toàn dân được sống an-khang lâu dài.

Không c̣n chém giết, ách-tai;

Thoát đời nô-lệ, miệt-mài đau-thương!

-------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(20)- “Mậu Th́n”: Năm Mậu Th́n 968; sau khi dẹp xong 12 Sứ Quân; Triều-thần tôn Đinh-Bộ-Lĩnh là Vạn-Thắng-Vương lên ngôi Hoàng-Đế. Húy-Hiệu là Đinh-Tiên-Hoàng (353). Đặt Kinh-Đô tại Hoa-Lư và đổi tên nước là Đại-Cồ-Việt (thay v́ Giao-Châu). Sau khi lên Ngôi, Đinh-Tiên-Hoàng đă cho xây cung-diện và sắp đặt lại Triều-cương và những quy-định về các chức vụ quan văn, quan vơ… trong Triều. Đồng thời phong ban chức vụ cho các văn thần, vơ tướng có công trong việc dẹp loạn, dựng Nước như: Nguyễn-Bặc làm Định-Quốc-Công (như Tể Tướng). Lê-Hoàn là Thập-Đạo Tướng Quân (Như Tổng Tham Mưu Trưởng). Đinh-Điền làm Ngoại-Giáp (Như Bộ Trưởng Ngoại Giao). Và c̣n nhiều chức vụ khác. Riêng con trưởng Đinh-Liễn; ngoài chức vụ: “Nam-Việt-Vương”, Vua c̣n đặc cử làm Sứ-Thần để giao hảo với nhà Tống bên Tàu khi đó. Thời Đinh Tiên Hoàng; Toàn dân được sống an-khang lâu dài. Không c̣n bị chém giết, ách-tai; Thoát đời nô-lệ, miệt-mài đau-thương!

 

Tới Thời Hậu-Lư (21) phi-thường;

Bốn Đời (21) hiển-hách; Bắc-Phương nhớ đời…!

 

1- Lư-Thái-Tổ (10/1009 - 1028).

 

Kể từ Công-Uẩn lên “Ngôi”; (22)

Tới khi (Lư)Thái-Tổ ĺa đời (22) b́nh-an.

Biết bao công đức phi-phàm;

Thương dân, yêu Nước, hảo bang Bắc Triều.

Hành-tŕnh, thập-cửu (22) Vương-Triều;

Dân yêu, bạn mến; cao-siêu cuộc đời!

Vinh danh Thái-Tổ rạng-ngời;

Hy-sinh cuộc sống; cho đời lên hương…!

Thiên-Thành (22) về cơi vô-thường;

Vui cùng Tiên Tổ Quê-Hương Lạc-Hồng!

 

2- Lư-Thái-Tông (1028 - 1054).

 

Tiếp con Phật-Mă: (Lư)-Thái-Tông;

Lên ngôi Hoàng-Đế, nối Ḍng Lư-Gia.

Hoà-hợp anh, em một nhà;

Chung tay xây-dựng Quốc-Gia uy-hùng…!

Giặc xâm… quyết chí truy-lùng;

Dẹp Cao, diệt Đẩu, Vua hung xứ Lào.

Thái-Tông: nhân-ái, tài cao;

Thương dân, giữ Nước, xiết bao ân-t́nh!

Chăm lo triều chính, cung đ́nh;

Xây chùa Diên-Hựu; Thần linh phụng-thờ.

Chính-cương, sắp-đặt quân-cơ;

Sẵn-sàng ǵn-giữ cơi-bờ b́nh-an.

Triều-cương sửa lại rơ-ràng;

“H́nh-Thư” bộ Luật; “Chỉ” ban thi-hành.

Ai tuân sẽ được vinh danh,

Kẻ không, sẽ phải chấp-hành luật nghiêm.

------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(21)- “Bốn Đời Hậu Lư hiển-hách.”: Là Lư-Thái Tổ, Lư Thái Tông, Lư Thánh Tông, và Lư Nhân Tông.

(22)- “Kể từ Công-Uẩn lên Ngôi.”: Vua Lư Thái Tổ lên Ngôi vào tháng 10 Năm 1009, lấy Niên Hiệu là Thuận Thiên. Ở Ngôi trị v́ được 19 Năm. Và tạ thế vào Năm Thiên Thành 31-03-1028. Thọ 55 tuổi.

 

“H́nh-Thư” bộ luật đầu tiên;

Kể từ lập Quốc; khởi nguyên Hồng-Bàng.

Thái-Tông; “Minh-Đạo” rơ-ràng…

Tra cung, quy tội: Phải đang; công, tường.

Ngoại trừ “Thập-ác”; khó thương;

Phải quy nghiêm-khắc; chớ nhường vị thân…!

Kinh tài chủ yếu nông dân;

Thái-Tông, Lễ-Hội; đích thân đi cày.

Lụa là, gấm vóc; thêu may;

Đă là nhi nữ; phải hay, phải rành.

Cung tần, phi tử phải lanh;

Biết thêu, biết dệt, tinh-anh tỏ-tường…!

Việc này có lợi khôn lường.

Vua, Quan tránh được gian-thương hàng Tàu.

Hậu phi, cung-nữ, nhạc chầu;

Thập tam, thập bát, trăm hầu ca-công.

Thái-Tông; “Minh-Đạo” nối ḍng;

Anh-minh, nhân-ái, uy-phong Lư-Triều.

Trị-v́ chính-trực, cao-siêu;

Thác an cơi phúc, lưu nhiều tiếc thương!

 

3- Lư-Thánh-Tông (1054 - 1072).

 

Nhật-Tôn, tiếp nối tông-đường;

Lên ngôi Hoàmg-Đế; danh dương Lư-Triều.

Thánh-Tông, vương hiệu cao-siêu;

Quốc-danh: Đại-Việt, bao nhiêu là t́nh…!

Hiệu-niên: Long-Thụy Thái-B́nh.

Vị Vua nhân-ái, ắp t́nh yêu-thương.

Yêu con, là chuyện b́nh-thường;

Yêu dân, yêu cả gạt-lường tội-nhân…!

Một hôm, ngự trước quần-thần;

Thánh-Tông phán bảo quan, quân thế này:

“Cẩm-bào, Trẫm mặc thật dày;

Mà thân c̣n rét; tù-đày rét hơn…!

Lạnh thân đă vậy, lạnh hồn;

Áo không đủ ấm, chén cơm thiếu dùng.

Lắm người, chưa tỏ lời cung;

Lỡ sai giáng tội; khốn-cùng thác oan…! ”

Nói rồi Vua truyền các quan;

Chiếu chăn cấp-phát, trao ban “thực” dùng.

Một hôm xét án kết cung;

Động-Thiên công-chúa; đứng cùng bên Vua.

Thương dân, Ngài phán như đùa:

“Thần dân có khác con Vua chỗ nào…!?

Yêu con, ở chốn thanh-cao;

Yêu dân cũng vậy, khác nào như con.

Chỉ v́ dân-trí c̣n non;

Không may phạm lỗi; tội đ̣n phải mang.

Luật h́nh quy án đă ban;

Từ nay giảm bớt, nhẹ-nhàng yêu-thương…!”

Thánh-Tông, tài, đức phi-thường;

Dựng xây Văn-Miếu, tinh tường Phật, Nho.

Quyết-tâm phát-triển Cơ-Đồ;

Lưu-truyền Phật-Pháp, Khổng-Nho thánh hiền.

Triều Ngài, Đất-Nước b́nh-yên;

Mở-mang cương-thổ, khắp miền Bắc, Nam.

Bắc phương, Ngài dẫn quân sang;

Hiên-ngang; diễu khắp phố, làng Khâm-Châu.

Báo cho Vua Tống nước Tàu;

Đừng ḥng lấn-chiếm tuyến đầu Việt-Nam.

Lạng-Châu, Thân-Thái hiên-ngang;

Điều quân sang đánh tan-hoang quân Tàu.

Dương-Tài bị tóm cái đầu;

Tống sai Dự-Tĩnh, sang chầu xin tha.

Phi-Gia Đại-Việt; giao-ḥa,

Tọa-đàm tuy lịch; không tha Dương-Tài.

Thánh-Tông; tỏ rơ thanh-oai;

Tống vương kính-nể danh Ngài; Việt vương…!

Bang-giao; hai Nước b́nh-thường,

Việt, Tàu thân-hữu; giao-thương công-b́nh.

Tống vương, học cách điều binh;

Từ trong Sách-Lược; định b́nh Việt-Nam.

Thánh-Tông, vận số bẽ-bàng;

Xuân gần bốn chục, chưa toàn “Tử ngôi”. (23)

Nghiệp Vương nối-dơi “Ḍng Đời”;

Vẫn hoài mong-đợi; ơn Trời thương ban.

Một hôm, du-lăm thênh-thang;

Thánh-Tông cầu tự tại làng; Chùa Dâu.

Trời thương, thỏa-dạ mong-cầu; (24)

Gặp người con gái, hái Dâu bên đàng.

Khiết-Nương, (24) nép bóng bụi Lan;

Thánh-Tông bỗng thấy dáng nàng dễ thương…!

Tâm-hồn xao-xuyến khôn lường;

Vời về cung-điện; luyến thương vô ngần…!

Thánh-Tông, trước mặt quần-thần;

Phong nương trinh Khiết; Phi-Tần Ỷ-Lan. (24)

Hai năm sau đó Trời ban;

Trưởng nam Càn-Đức; ngập tràn yêu thương…!

Thánh-Tông thỏa dạ Tông Đường;

Hôm sau phong Đức; Tử vương (23) Lư Triều.

Vương Triều hạnh-phúc bao nhiêu;

Thời dân cũng vậy; thêm nhiều hân-hoan…!

Mậu-Thân (1068), trai thứ Trời ban;

Minh-Nhân (23a) hoàng-tử; vô vàn thánh ân…!

Thánh-Tông cùng với quần-thần;

Vui-mừng khôn xiết, trăm dân thỏa ḷng.

Sang năm Kỷ-Dậu Thánh-Tông;

Điều binh tiến đánh, đề pḥng nước Chiêm.

V́ chưng Chế-Củ kết liên;

Với vua nhà Tống; thường xuyên cướp càn.

Đường binh tiến xuống phương Nam;

Phải qua sông, núi… Muôn vàn khó khăn.

Thánh-Tông xuống chiếu lệnh rằng;

Đại binh chuẩn-bị hai trăm chiến thuyền.

Thường-Kiệt, Đại-Tướng đi tiên;

Thuyền Rồng tiếp nối, di liền theo sau.

Phó vương, Thường-Hiến tháp hầu;

Binh thuyền đợi lệnh; khởi đầu phải nghiêm.

---------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(23)- “Xuân gần bốn chục (40) chưa toàn “Tử Ngôi”: Vua Lư Thánh Tông khi tuổi đời đă xấp xỉ 40; nhưng ngài vẫn chưa có một người con trai nào để nối Ngôi Thái Tử; nối dơi Tông Đường. Ngài rất buồn và lo ngại cho Ḍng Tộc…!

(24)- “Trời thương thoả dạ mong cầu.”: Nhưng Trời đă đoái thương cho Ngài gặp được người con gái hái dâu bên đường tên là Khiết Nương. Ngài cho vời về Cung và phong nàng làm Phi-Tần Ỷ-Lan. 2 Năm sau Ỷ-Lan sinh cho Ngài một Trưởng Nam là Thái Tử Càn-Đức. Quan Năm Mậu Thân 1068, Ỷ-Lan lại sinh thêm cho Ngài Hoàng Tử Minh-Nhân. Thánh Tông và quần thần vui mừng khôn xiết.

 

Trước giờ rời bến Vua truyền:

“Ỷ-Lan ở lại; thay quyền Triều-cương.

Điều binh, khiển tướng Triều-đường.

Có Sư Lư-Đạo dựa-nương đỡ-đần.”

--------------------------------------------

Dặn rồi, Vua truyền chuyển quân;

Chiến thuyền tiến tới, rần-rần ra khơi.

Mười ngày thẳng cánh đến nơi;

Nghệ-An, Hồng-Lĩnh; biển trời xứ Chiêm.

Năm ngày tiếp nối liền-liền;

Thường-Kiệt đáo bến cửa biên đề-huề.

Nhật-Lệ, tập-họp đông ghê;

Thủy-quân Chiêm sẵn; tứ bề tấn-công.

Thường-Kiệt; Lư tướng canh-pḥng,

Phản-công truy địch; ḍng-ḍng tháo lui.

Mặc cho lính thủy Chiêm lùi;

Lư quân tiến thẳng, mũi dùi Kinh Đô.

Phật-Thệ, ba phía núi nhô;

Hướng Đông là biển, khó vô quân ḿnh.

Tuy nhiên, vẫn đổ thủy binh;

Thường-Kiệt làm chủ t́nh-h́nh nơi đây.

Tu-Mao, lính thủy Chiêm đầy;

Lư quân vây đánh, điểm này tứ vi.

Quân Chiêm, thất trận suy-vi;

Tướng Chiêm bị giết: Bố-B́ Đà-La.

Thủy quân, số chết hằng-hà;

Quân Chiêm thất trận; rất là lao-đao…!

Lư(Thường)-Kiệt vượt ải Tu-Mao

Qua hai sông nữa, tiến vào Đô Chiêm.

Phật-Thệ, đang lúc giữa đêm;

Quân dân hoảng-loạn, khóc rên bi-hoài.

Quốc vương Chế-Củ chạy dài.

Mang theo con, vợ; một vài cận quan.

Chiêm quân, bị hăm dọc ngang;

Hàng-hàng, lớp-lớp ra hàng quân ta.

-----------------------------------------------

Thường-Kiệt bên bến Đồng-La;

Tiếp-thu chiến-tích; cùng là tàn quân.

Thánh-Tông, không thỏa hàng thần;

Bắt Vua không được, kéo quân quay về.

Cư-Liên; dừng lại, Vua nghe:

“Ỷ-Lan giám Quốc; trọn bề Triều-cương.

Quần-thần, đoàn-kết yêu-thương;

Toàn dân khen-ngợi, phi-thường Nguyên-Phi…!”

Thánh-Tông nghĩ: “Phận nam nhi;

Dẹp Chiêm không trọn; chẳng b́ nữ-lưu…?”

“Tiếp phen, phải đạt tối ưu;

Truy-t́m Chế-Củ, chuyển lưu công thành.”

Thánh-Tông, trở lại thật nhanh;

Lệnh cho Thường-Kiệt phải lanh truy-tầm.

Lư quân di chuyển rần-rần…

Tháng tư, tiến đến ranh phần Cao-Miên (Chân-Lạp).

Phan-Rang, Phan-Thiết một miền;

Nơi xây tháp bảo uy-quyền Chiêm Pandu (Pandurango).

Chân-Lạp, vốn nước cựu thù;

Chế Vương bí lối; cho dù muốn sang.

Vua Chiêm đành phải đầu-hàng.

Cùng chung số phận; năm vàn (vạn) quân Chiêm.

Thánh-Tông thỏa dạ uy-quyền;

Mang về Chế-Củ, quân Chiêm; hoàn-thành.

Thường-Kiệt, danh tướng hùng-anh;

Chiến công lừng-lẫy; uy-danh ngút trời…!

Tháng năm; Vua, Tướng nghỉ ngơi;

Chiêm-Đô Phật-Thệ; sau rời về Kinh.

Tháng sáu về tới Tư-Minh (Tư-Dung);

Tháng bảy nhập điện Cung-Đ́nh Thăng-Long.

Đến đền Thái-Miếu, Thánh-Tông;

Đổi danh: “Thần-Vũ”; chiến-công Triều-Đ́nh.

Vương Chiêm Chế-Củ van-xin;

Dâng ba Châu-Huyện; kết-t́nh bang-giao.

Ma-Linh, Bố-Chính trở vào;

Thêm châu Địa-Lư; thổ-hào Việt-Nam.

B́nh Chiêm, chiến tích rỡ-ràng;

Thần vương Thường-Kiệt, danh vang ngàn đời…!

Thánh-Tông thỏa-dạ nghỉ-ngơi; (25)

Về bên Tiên-Tổ, muôn đời danh vang…! (25)

----------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(25)- Sau khi hoàn-thành sứ mạng b́nh Chiêm; lấy được 3 Châu. Thánh-Tông tạm nghỉ ngơi. Đến Tháng Giêng năm Nhâm Tư (tức 1 tháng 2 năm 1072), Lư-Thánh-Tông băng hà ở điện Hội Tiên, trị v́ được 17 năm, hưởng thọ 49 tuổi và được an táng ở Thọ Lăng. Sau khi Thánh-Tông mất, Thái tử Càn-Đức mới 7 tuổi lên thay, tức là vua Lư-Nhân-Tông.

 

4- Lư-Nhân-Tông (1072 - 1127).

 

Nối Ḍng sẵn có trưởng nam;

Lư danh Càn-Đức, con nàng Nguyên-Phi (Ỷ Lan).

Lên Ngôi, bảy tuổi thơ nhi;

Nhân-Tông phong mẹ; Mẫu-nghi đương Triều.

Linh-Nhân Thái-Hậu (26) diễm-kiều;

Sau rèm nhiếp-chính; (26) nhiễu điều… phải đương.

Đạo-Thành, phụ chính Triều-cương.

Quân t́nh, Thường-Kiệt đảm-đương quan hoài.

Ỷ-Lan, tỏ rỏ thanh oai; (26)

Nhị thần Thành, Kiệt; trong ngoài phải chu. (26)  

Đạo-Thành, phụ-chính vài Thu;

Ỷ-Lan sai đến; trấn “thù” Nghệ-An.

Lư-Thường ở lại lo-toan;

Giúp cho Ấu-Chúa; trị-an trong ngoài.

Văn quan, vơ tướng Triều Ngài;

Kỳ-tài, hiển-hách; sánh vai hơn thù.

Nhân-Tông, danh vọng thiên-thu;

Minh-quân Hoàng-Đế; bạn, thù… nể, kinh…!

Triều Ngài, có Mẹ anh-minh;

Luôn-luôn bên cạnh, giúp ḿnh Triều-cương.

Thêm quan Thái-Úy: Lư-Thường(Kiệt);

Đa mưu túc kế; dẫn đường điều-binh.

Nhị phen dẹp Tống, phải kinh;

Lưu danh thiên cổ; quân t́nh nước Nam.

Đại-Việt, khắp cơi b́nh-an;

Trai-thanh gái tú, hân-hoan yêu-kiều.

Chính-t́nh thay đổi nhiều điều;

Khởi đầu, Cơ-Xá đê-điều đắp xây.

Ngăn ḍng nước lũ phủ đầy;

Kinh-đô Đại-Việt; hại lây mùa màng...!

--------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(26)- Sau khi lên ngôi; vua Lư-Nhân-Tông phong mẹ (là Ỷ-Lan Nguyên-Phi) lên làm Mẫu-nghi Linh-Nhân Hoàng-Thái-Hậu. Buông rèm nhiếp-chính với sự hổ-trợ của Thái sư Lư-Đạo-Thành. Thái-Hậu Ỷ-Lan được Lư-Thường-Kiệt và Thái-sư Lư-Đạo-Thành pḥ trợ, phế truất Dương-Thái-Hậu. Ỷ-Lan trở thành người có quyền nhiếp chính nhất Triều-Đ́nh Đại Việt lúc bấy giờ.   Để tránh bất đồng trong việc trị Nước, Bà sai Lư-Đạo-Thành(458) ra canh-giữ “quân thù” ở Nghệ An; đồng thời phong Lư-Thường-Kiệt, làm Thái úy; giúp việc Triều chính. Mặc dù bận giao tranh với nhà Tống nhưng vua Nhân-Tông và Triều đ́nh vẫn rất quan tâm đến t́nh h́nh chính trị trong Nước. Ngài cho đắp đê Cơ-Xá để giữ kinh thành và tránh cho dân làng khỏi bị lũ lụt hàng năm, cũng như tác hại đến mùa màng.

 

Văn-học(27)  kinh-sử mở-mang;

Khoa thi tam cấp, (27) người “đang (đậu)” khiển dùng.

Phong quan, gánh vác việc chung;

Mười người thi đậu, khắp vùng nước Nam.

Đỗ đầu Lê-Thịnh; (27) Thái quan;

Giúp Vua học-tập; mở-mang Triều-Đ́nh.

Thái-sư phản-nghịch; (27) Vua khinh;

Bị đày biên ải; (27) nghĩ t́nh: Thao-Giang.

T́m người văn, vơ kiêm-toàn;

Vua xây Quốc(Tử)-Giám; ngang-hàng đại-khoa.

Hàn-Lâm-Viện Sĩ mở ra;

Có Mạc-Hiển-Tích; đầu khoa Viện-thần.

Nhân-Tông muốn nhớ danh-nhân;

Làm “Hội-Điển Sách” sánh phần cổ, lai.

Sai ghi đầy đủ: hỷ, ai;

Triều-cương, Vương, Tướng, cảm hoài vĩ-nhân.

Nhân-Tông, Quan-chế tương-lân.;

Chia thành chín phẩm, định phần xứng cân.

Văn-Ban mang chức đại-thần:

Thái-Sư, Thái-Phó; Úy thần, Thiếu Sư.

Dưới thời: Gián-Nghị, Thượng-Thư;

Tham-Tri tả, hữu, Trung-Thư, Bộ lang.

Quân-t́nh có một Vơ-Ban:

Đô, Nguyên, Tổng-quản, ngang-hàng tướng quân.

Tỉnh thành quan chức được phân:

Tri-Châu, Tri-Phủ, Phán phần Quận, Châu.

Vơ quan Chư-Lộ đứng đầu;

Quân-t́nh gánh-vác, ngơ-hầu an dân.

Mỗi Quan, chia sẻ một phần;

Chu-toàn trách-nhiệm định phân rơ-ràng.

------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(27)- Vua Nhân-Tông cũng quan tâm đến lănh vực văn-hóa, giáo dục và quan chế. Năm 1075, Ngài cho mở khoa thi Tam Trường, c̣n gọi là Minh Kinh Bác Học để chọn người có tài văn học vào làm quan. Khoa thi ấy là khoa thi đầu tiên ở Đại Việt ta và chọn được 10 người. Lê-Văn-Thịnh đậu thủ khoa được phong quan; vào Triều dạy Ấu Chúa về kinh sử. Về sau Thịnh làm đến chức Thái-sư (như Tể Tướng). Nhưng v́ có ư phản nghịch, nên Vua nghĩ t́nh chỉ đày đi Thao-Giang.

 

 

Sau khi quy-định tước quan;

Nhân-Tông lệnh Kiệt sửa-sang quân-t́nh.

Ỷ-Lan góp ư điều binh;

Chiến-lược phạt Tống; di binh mọi miền.

Lư-Thường(-Kiệt) phủ đầu trước-tiên;

Khiến quân nhà Tống đảo-điên canh-pḥng.

V́ chưng Kiệt có “chân trong”;

Ông Từ-Bá-Lư, báo pḥng Tống quân.

“Khi nao Đại-Tướng thấy cần;

Có Tôi tiếp-ứng, góp phần tấn-công.”

Thủy quân Kiệt đánh Quảng-Đông;

Lục-quân Tôn-Đản, tấn ṿng Quảng-Tây.

Ung-Châu là điểm tụ đầy;

Hùng quân nhà Lư bủa-vây tư bề.

Tô-Giàm cố-thủ ê-chề;

Đợi quân tiếp-ứng, kéo về giải vây.

Lưu-Di, nghe-ngóng nơi đây;

Đang kỳ bị hăm, xiết vây lần-lần.

Lệnh cho Thủ-Tiết mang quân;

Tiến nhanh tới-tấp, góp phần cứu nguy…!

Đoàn quân Thủ-Tiết chuyển di;

Ngang qua Tuyên-Hóa, tức-th́ bị công.

Lư quân chẹn đánh, vây ṿng;

Tướng Tàu; Thủ-Tiết, chết trong trận này.

Thường-Kiệt xiết-chặt ṿng vây;

Rần-rần xông tới; bao-vây Ung Thành.

Lệnh cho quân tiến thật nhanh;

Bằng phương hỏa thổ; công thành diệt-tru.

Tô-Giàm thất trận, căm-thù;

Quân tàn, lực tận; lệnh tru-diệt Ḍng: (28)

Thân nhân “36 người”; khá đông;

Đồng loạt tự-sát, riêng ông hỏa h́nh (tự thiêu). (28)

------------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(28)- “Lệng tru diệt Ḍng.”: Tô-Giàm là Tướng Nhà Tống, thủ Thành Ung-Châu; bị Lư-Thường-Kiệt đánh bại. Nên Hắn đă ra lệnh cho cả nhà phải cùng tự vận gồm 36 người. Riêng Tô-Giàm tự thiêu. Tất cả là 37 người.

 

Tống quân, không chịu hàng binh.

Lư quân giết sạch, dân t́nh vạ lây.

Xác quân, dân Tống… nằm đầy;

Ước chừng “bảy vạn”, phơi thây khắp vùng.

Từ Liêm, Khâm tới Châu Ung;

Xác phơi la-liệt, chôn chung quân Tàu.

Hai trăm “Tàu” bị tóm đầu;

Cùng nhiều của-cải; tịch-thâu mang về.

Chiến-lược phạt tống nhiêu-khê;

Mất hơn một tháng, thu về chiến-công.

Mục tiêu phạt Tống để pḥng;

Tống quân bất-chợt, tấn công khi b́nh.

Lư-Thường kiểm-soát tử binh; (28a)

Tống-quân “bảy vạn”. Quân ḿnh vài thiên;

Hy-sinh giữa chốn trận tiền;

Bảo toàn lănh-thổ, giữ biên-cương nhà.

Tháng ba (1076), Kiệt rút quân ra;

Giă từ đất Tống, về nhà dưỡng binh.

Pḥng khi quân Tống th́nh-ĺnh;

Trả thù tấn chiếm Nước ḿnh hậu-phương.

Qủa như Thường-Kiệt đă lường;

Thần-Tông nhà Tống t́m phương trả thù.

Nghe tin Tô-Giàm bị thua;

Lệnh cho Qùy, Tiết phải lùa quân sang.

Hợp cùng Chiêm, Lạp giao-bang; (29)

Chia làm hai ngă tiến sang đánh “Ḿnh”.

Quách-Quỳ, Triệu-Tiết điều binh;

Hợp cùng chín (9) Tướng rập-ŕnh tiến sang.

---------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(28a)- “tử-binh”: Là binh lính cảm-tử (cảm tử binh).

(29)- “Hợp cùng Chiêm, Lạp giao bang;”: Sau khi Lư Thường Kiệt đánh thắng Tô-Giàm tại Ung châu. Vua Thần-Tông Nhà Tống ra lệnh cho 2 Tướng Quỳ và Tiết; cấu kết với Chiêm-Thanh và Chân-Lạp; chia làm 2 ngă tiến đánh Đại Việt. Nhưng đă bị Lư Thường Kiệt đánh tan tại sông Như Nguyệt và sông Nhị Hà, Khúc Táo. Quân Nhà Tống đă bị giết hằng hà vô số… đến hơn 1000 tên!

 

 

Tuyến-đầu bị Kiệt cản ngang;

Tại sông Như-Nguyệt, hàng-hàng hùng binh.

Quách-Qùy, Triệu-Tiết thất-kinh;

Tống quân bại trận, tử binh hơn ngàn. (29)

Quách-Qùy dẫn tàn quân sang;

Nhị-Hà, Khúc-Táo; bày hàng vượt sông.

Không ngờ bi Kiệt phản-công;

Cầu phao bị cắt, tử-vong vô-vàn.

Số c̣n không thể vượt sang;

Tống quân dẫu mạnh, không đang trận-tiền.

Lư quân, cũng đă ngă-nghiêng;

Tướng, quan mỏi-mệt; trận-tiền chưa ngưng.

Kiệt dùng tâm-thuật biểu-dương;

Từ đền Trương-Hát, tưng-bừng phát ra:

“Đại-Việt; “Nam-Quốc Sơn-Hà”, (30)

Vua Nam cai trị, Đất Nhà Việt-Nam…!

Tống Vương, đừng ḥng lấn sang;

Trăm ngàn cũng bại; quân Nam không sờn.

Thượng Thiên thấu rơ nguồn-cơn;

Ư Trời đă định; chuốc hờn mà thôi…!”

Tống quân nghe rỏ từng lời;

Tướng, binh… khiếp-sợ; nghĩ Trời không dung…!

Đoàn quân; tháo-chạy tứ-tung;

Lư quân đắc-thắng; truy-lùng theo sau.

Dẹp tan quan, tướng giặc Tàu;

Xua quân xâm-lược; tuyến đầu Việt-Nam.

Thường-Kiệt sáng-suốt tính-toan;

Đánh hoài không thể; chuyển sang nghị-ḥa.

V́ chưng tiếp chiến… Nước ta;

Quân tàn, lực tận… khó mà trường-chinh…!

----------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(30)- “Nam Quốc Sơn Hà.”: Là Bản Tuyên Ngôn Độc Lập đầu tiên của Việt Nam.

 

"Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư." 

                   

Lư Thường Kiệt

 

Tống vương đồng ư thuận t́nh;

Lệnh cho Qùy, Tiết; điều binh lui về.

Đôi bên ngưng chiến; thỏa-thuê.

Quan, quân Đại-Việt; kéo về dưỡng quân.

Tống vương khác ư, tần-ngần;

Cho quân ở lại, giữ phần Quảng-Nguyên.

Và Tư, Tô, Mậu giáp biên.

Quảng-Lang thêm nửa thuộc miền Lạng-Sơn.

Nhân-Tông không thỏa nuôi hờn;

Chờ thời ḥa-nghị; Châu, thôn thu hồi.

Đến năm Mậu-Ngọ (1078) (31) là thời;

Nhân-Tông sai sứ; thu-hồi Nguyên-Châu. (31)

Đào-Nguyên(31) nhận lệnh đi Tàu;

Đem Voi sang biếu vua Tàu; Thần-Tông.

Tống vương, tỏ ư bằng ḷng; (31)

Kèm theo điều-kiện; thỏa trong chuyện này:

Đại-Việt phải trả Tàu ngay;

Tù-binh nhà Tống; bắt ngày Ung-Châu. (31)

Nhân-Tông thỏa nguyện vua Tàu.

Nhưng sai khắc chữ trên đầu tù-binh. (31)

Thiếu niên nhận: “Thiên-tử-binh”,

Nữ là “Quan-khách”, dấu t́nh cánh tay.

Nam trang, trên trán phô-bày:

“Đầu-Nam-Triều Việt”; (31) những ngày xâm-lăng.

Nhân-Tông ngụ ư nhắn rằng:

Từ đây, Tàu chớ xâm-lăng bá-quyền. (31)

Sau khi lấy lại Quảng-Nguyên;

Tống-Triều nuối-tiếc “vàng”… tiền; thơ rơi:

“Nhân tham Giao-Chỉ thuần Voi;

Khước từ châu Quảng; để rồi mất “kim”…!”

--------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(31) Hai năm sau ngày phá thành Ung-Châu; rồi rút quân về… Đến năm Mậu-Ngọ (1078), Lư-Nhân-Tông sai Đào-Tôn-Nguyên  đem Voi đi biếu vua Tàu; Tống-Thần-Tông; và đ̣i lại các châu, huyện và châu Quảng-Nguyên. Vua Tống đồng ư trả lại Đại-Việt các phần đất đă chiếm với điều-kiện; Đại-Việt phải trả cho nhà Tống 221 tù-binh đă bị Lư quân bắt trong các trận chiến Châu Khâm, Châu Liêm và Châu Ung hồi năm 1076. Sứ-thần Đào-Tôn-Nguyên đồng ư và báo tin vui về Triều Đại-Việt. Sang năm Kỷ-Mùi (1079), trước khi thả (221 người tù), Lư-Nhân-Tông lệnh cho khắc trên trán các tù binh thiếu niên chữ: “Thiên-Tử-Binh”. Nam từ 20 tuổi trở lên khắc chữ: “Đầu-Nam-Triều” và đàn bà con gái th́ khắc trên cánh tay trái hai chữ: “Quan-Khách”. Sau khi nhận lại được các Tù-binh, Nhà Tống trả lại các phần đất vùng Quảng-Nguyên của Đại-Việt; đă chiếm giữ từ năm 1076. Tuy nhiên nhà Tống cảm thấy rất là nuốc tiếc; v́ nghe đồn rằng vùng đất Quảng-Nguyên là nơi có nhiều mỏ vàng, nên làm hai câu thơ rằng: “Nhân tham Giao-Chỉ Tượng. Khước thất Quảng-Nguyên kim”

 

Sang năm Giáp-Tư (1084), (32) thời b́nh.

Nhân-Tông sai Thịnh; điều-đ́nh phân ranh. (32)

Biên cương Tống, Việt phải rành;

Đôi bên không được lấn ranh láng-giềng.

Tống vương thuận-thảo đường biên;

Từ đây hai nước láng-giềng tương-giao. (32)

Nhân-Tông là đấng anh-hào;

Thường-Kiệt danh Tướng; ngôi cao không màng.

Ba Triều Nhà Lư; hiên-ngang…

B́nh Chiêm, phạt Tống; rỡ-ràng nước Nam…!

Thần-Tông, vua Tống nể-nang;

Phong Vua Đại-Việt, là “Nam-Vương-B́nh”…! (32)

V́ Tàu thời đó (1126) chiến-chinh;

Mất luôn phương Bắc; Nhà Kim thu-hồi.

Kinh Đô nhà Tống phải dời;

Đổi danh: Nam-Tống, Đô thời Hàng-Châu.

Phương Nam Đại-Việt từ lâu;

Thường-Kiệt chiếm cứ ba Châu Chiêm-Thành.

Quư-Mùi, (1103) lại khởi chiến tranh;

Diễn-Châu, Lư-Giác tranh-giành phản Vua.

Lư-Thường (Kiệt) đánh Giác te-tua…

Giác thua chạy trốn, cầu Vua Chiêm-Thành.

Chế-Ma Na thuận-thảo cùng tranh;

Ma-Linh, Bố-Chính, (Châu)Lư… (Chiêm)Thành đă dâng.

Nhân-Tông sai Kiệt điều quân;

Diệt-tru Lư-Giác, lẫn quân Chiêm-Thành

Chế-Ma Na thua trận, hàng thần;

Trả về Đại-Việt, ba phần khi xưa.

Tạ-ơn Lư Tướng, Đức Vua;

(Lư)Nhân-Tông, Thường Kiệt: Tướng, Vua kiêu-hùng!

-----------------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(32)- Năm Giáp-Tư (1084) Lư-Nhân-Tông sai Binh-bộ Thị-Lang Lê-Văn-Thịnh sang điều-đ́nh với nhà Tống; để phân chia lại ranh giới giữa hai nước Tống, Việt cho rỏ ràng (Sử không nêu rỏ địa danh nào)… Tống-Thần-Tông nể v́ vua Nhân-Tông của Đại-Việt là một vị Vua anh-hào, minh quân…Nên đă phong cho vua Lư-Nhân-Tông là: “Nam-B́nh-Vương” và ngợi khen Lư-Thường-Kiệt là một danh Tướng có tài… Nên đă thuận ḷng phân ranh rỏ ràng với Đại-Việt. Vả lại sau khi (1126) bị Nhà Kim đánh chiếm mất phương Bắc. Nhà Tống phải rời Đô về Hàng-Châu và đổi quốc hiệu lại là: Nam-Tống. Từ đó giữa hai nước Đại-Việt và Nam-Tống đă có một thời gian khái dài được ḥa-hảo yên-ổn.

 

Trần-Nhân-Tông, tiêu-diệt Giặc Mông-Nguyên (1284 - 1288)

 

Thời Trần cũng rất anh-hùng…!

Thánh-Tông Hoàng-Đế; (33)  vẫy-vùng thanh oai…!

Mậu-Dần (1278) thoái Vị, nhường Ngai;

Truyền Ngôi con trưởng thay Ngài: Trần-Khâm. (34)

Thánh-Tông; (33) Vương-hiệu cao-thâm;

Được tôn Thái-Thượng; trọn phần Nước-Non.

Lui về Cung-Điện vàng-son;

Nơi Thiên-Trường-Phủ; giúp con đăng Triều.

Trần-Khâm(34) chọn hiệu cao-siêu;

Nhân-Tông, (34) mẫn-tiệp; mọi điều anh-minh…!

Vương-hầu, khanh-tướng Triều-Đ́nh;

Ai-ai cũng thỏa, vững tin nơi Ngài.

Nhân-Tông, (34) tài-trí hơn ai;

Hai lần Mông-Cổ; (35)  đánh Ngài không đang…!

Giáp Thân(1284) Mông-Cổ (35) sài-lang;

Sài-Xuân (Thung) sang Sứ; (35) ngang-tàng hạch thưa:

“Sao không xin phép Nguyên Vua;

Đại-Việt tự-lập, tôn Vua Trần-Triều…!?

Muốn yên phải tới Thiên-Triều;

Chầu vương Tất-Liệt; (35) mọi điều mới xong.”

Nhân-Tông(34) b́nh-tĩnh, thong-dong:

“Qủa-Nhân(34) vốn được sinh trong Cung-Đ́nh”;  

“Sao ta có thể đăng-tŕnh;

Chầu vua Mông-Cổ; (35) ỷ ḿnh Đại-Nguyên…!?”

Sài-Xuân (Thung) nhge… cảm lụy-phiền;

Về tâu… Tất-Liệt giận điên, điếng hồn.

Bèn sai Sứ-Giả thông luôn;

“Việt-Nam phải cống(35) “Vàng hồn Nhân-Tông.” (34)

Ngọc-ngà, hiền-sĩ, thầy “Đồng”;

Chuyên-viên, mỗi hạng hai ông thế vào…!”

------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(33)- Năm Mậu-Dần (1278), Trần-Thánh-Tông nhường Ngai cho con Trưởng là Trần-Khâm và lui về làm Thái-Thượng-Hoàng ở Thiên-Trường Phủ; để giúp con trị Nước sau này.    (34)- Thái-Tử Trần-Khâm lên ngôi, lấy hiệu là Trần-Nhân-Tông, sinh ngày 07-12-1258. Là con vua Trần-Thánh-Tông và mẹ là Hoàng-hậu Trần-Thiều. Ngài là vị Hoàng-Đế thứ 3 của Nhà Trần. Trị v́ 14 năm (1279-1293) và làm Thái-Thượng-Hoàng 13 năm, thọ 51 tuổi (1258-1309). Nhân-Tông là vị Vua anh minh tài giỏi, được mọi người từ Triều-thần đến thứ dân đều kính phục. Dưới Triều Đại của Ngài, đă hai lần đánh bại quân Nguyên-Mông; lần đầu vào năm 1282 và lần hai vào năm 1287-1288.      (35)- Năm Giáp-Thân (1284), Hốt-Tất-Liệt sai Sài-Xuân sang Đại-Việt hạch hỏi vua Nhân-Tông: “Sao Đại-Việt tôn Vua Trần-Triều mà không xin phép vua Nhà Nguyên? Nếu muốn yên chuyện, vua Đại-Việt phải sang chầu vua Nguyên.”. Nhưng vua Nhân-Tông thẳng thắn trả lời rằng:“Bản thân Ta; sinh ra nơi chốn Cung-Đ́nh, sao phải sang chầu vua Nhà Nguyên cho được?”   

 

 

Nhân-Tông bất thuận Nguyên-Trào;

Sai Trần-Di-Ái; (36) sang trao ư t́nh.  

Nguyên-Mông hùng-hổ bất-b́nh;

Lệnh lập Tuyên-Phủ (-Ty); b́nh-định nước Nam.

Quan Nguyên Giám-Trị vừa sang;

Nhân-Tông lệnh đuổi “Sói-Lang” về Tàu.

Nguyên-Mông hội-họp bàn nhau;

Phong cho Di-Ái; (36) Vương đầu An-Nam; (36)

Lê-Tuân(36)  Thượng(Thư)-Lệnh, quan hàm;

Hàn-Lâm Lê-Mục, (36)  An-Nam tân Triều.

Sài-Xuân nhận lệnh quan-liêu;

Điều ngàn quân; dẫn tân Triều(36)  về Nam.  

Vừa khi tới Ải-Nam-Quan;

Nhân-Tông ban lệnh đánh tan phản Thần. (36)

Sài-Xuân tháo-chạy thoát thân;

Bị mù một mắt bởi tầm mũi tên.

Sài-Xuân vừa chạy vừa rên;

Quân Nguyên thất trận, lền-khên về Tàu.

Phận thân Thần phản cùng nhau;

Mục, Tuân, Di-Ái; (36)  héo-dàu tâm-can…

Nhân-Tông, giáng xuống binh phàm;

Tội-đồ lính trận; thay làm tù-binh.

Vua Nguyên (37) nghe được… giật ḿnh.  

Sai con; tập-kết đội h́nh, quân lương.

Thoát-Hoan(38)  làm Trấn-Nam-Vương;

Dẫn năm chục vạn; mượn đường đánh Chiêm.

Toa-Đô, Ô-Mă(-Nhi) kết-liên;

Cùng nhau xâm-nhập qua miền Lạng-Sơn.

Biên-thần Lương-Uất (39)  nghe đồn;

Sai người phi báo “Chí Tô” (34)  Triều-Đ́nh.

Nhân-Tông (34) nhận được khẩn tin;

Ngự thuyền tham-khảo t́nh-h́nh… B́nh-Than.

-------------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(36)- Năm Canh-Th́n (1280) Vua Nhân Tông sai chú họ là Trần-Di-Ái, Thượng-Thư Lê-Tuân và Hàn-Lâm Học-Sĩ Lê-Mục; đại diện Ngài sang thương nghị với vua Nhà Nguyên. Qua năm Nhâm-Ngọ (1282), trước sự cương-quyết của vua Nhân-Tông, Hốt-Tất-Liệt đă nổi giận và bàn cùng Triều-thần; tôn Trần-Di-Ái lên làm An-Nam Quốc-Vương (thay v́ Đại-Việt), Lê-Mục làm Hàn-Lâm Học-Sĩ, Lê-Tuân làm Thượng-Thư-Lệnh. Rồi sai Sài-Thung đem theo 1.000 quân; dẫn Trần-Di-Ái và đoàn tùy-tùng về Việt-Nam. Trần-Di-Ái và đồng bọn v́ ham quyền lực, đă làm theo sự sắp đặt của vua Nguyên.

Khi đoàn quân của Sài-Xuân (Sài-Thung) dẫn bọn nghịch thần Trần-Di-Ái về tới Ải-Nam-Quan, vua Nhân-Tông nhận được tin cấp báo; liền sai quân Đại-Việt đi đánh dẹp. Sài-Xuân bị trúng tên, mù một mắt. Quân Nguyên đại bại phải trốn về Tàu. C̣n đám phản thần Trần-Di-Ái, Lê-Mục, Lê-Tuân… bi giáng xuống làm binh linh b́nh thường đi đánh trận; thay v́ bị bỏ vào tù.

Đến tháng 8 năm Nhâm-Ngọ (1282), Hốt-Tất-Liệt (37)  lại sai con là Thái-Tử Thoát-Hoan, (38)  làm Trấn-Nam-Vương, cùng với Toa-Đô và Ô-Mă-Nhi, đem 50 vạn quân xâm nhập vào vùng Lạng-Sơn. Lấy lư do mượn đường sanh đánh Chiêm Thành.  Quan trấn thủ biên cương Đại-Việt là Lương-Uất, (39)  nghe được tin liền sai người về cấp báo với vua Nhân-Tông. (34)  Nghe được tin, Ngài liền cho triệu-tập các Vương hầu và bá quan văn, vơ… bên sông B́nh-Than (Hội Nghị B́nh-Than) để tham-khảo ư kiến mọi người nên đánh hay đừng…? Người th́ bàn nên cho quân Nguyên mượn đường đi sang đánh Chiêm. Người thi nói nên triều-cống nhà Nguyên cho yên chuyện. Duy chỉ có Trần-Quốc-Tuấn (Hưng-Đạo-Vương) và Trần-Khánh-Dư là xin đem quân đi chống giữ. Đặc biệt trong kỳ Hội Nghị B́nh Than này; có Hoài-Văn-Hầu Trần-Quốc-Toản v́ tuổi c̣n nhỏ không được vào tham dự hội nghị. Cậu ngồi bên ngoài cửa theo dơi sự việc… và đă bóp nát trái cam trong ḷng bàn tay từ khi nào không hay biết. Khi trở về, cậu chiêu tập gia nô và mộ thêm được hơn ngàn binh lính, sắm thuyền, binh khí, quyết chí đánh giặc Nguyên.

 

Vương-Hầu, khanh-tướng cùng bàn;

T́m mưu, kiếm kế; dẹp-tan quân Tàu.

Khánh-Dư, Quốc-Tuấn hợp nhau;

Cùng tâu Chúa-Thượng: “Đánh Tàu, không dung.” (40)

Nhân-Tông nghe nói thuận ưng;

Lệnh Trần-Quốc-Tuấn; (40) chấn-hưng quân-t́nh.

Phong làm “Tiết-Chế” (40) điều binh;  

Vương-Hầu, khanh-tướng; cùng b́nh quân Nguyên.

Giáp-Thân (1284), Hưng-Đạo lệnh truyền: (41)

“Tướng, binh; phải giữ luật nghiêm quân-t́nh.

Với dân, phải giữ niềm-tin;

Đồng-tâm đánh giặc, thắng ḿnh không kiêu.

Lỡ thua, ḷng vẫn không xiêu;

Lựa thời dịp khác; quyết liều thắng Nguyên.”

Sau khi thông báo “Hịch” tuyền;

Hưng(-Đạo)-Vương phân-bố yếu miền đóng quân. (42)

Trần-B́nh(-Trọng) trấn giữ B́nh-Than;

Trần(-Khánh)-Dư xung chiến; dàn ngang Vân-Đồn.

Vương-Hầu; yếu điểm làng thôn;

Hưng(-Đạo)-Vương Vạn-Kiếp, quân đôn khắp vùng.

Khi nghe Nguyên tặc(43)  tàn hung; 

Xua quân xâm-nhập khắp vùng Lạng-Sơn. (43)

Nhân-Tông, sợ địch sóng dồn;

Sai người thương nghị “Chí Tôn” Nguyên-Triều:

“Xin cùng ḥa-hiếu hai Triều;

Nguyên-Mông, Đại-Việt; nhiễu… điều không hay.”

Vua Nguyên, nghe Sứ giăi-bày;

Thâm-tâm không thuận, quyết bày trận xâm.

Thoát-Hoan, thái-tử ác-tâm;

Điều quân xâm-lấn, (43) ngang tầm Lạng-Sơn.

----------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(40)- Tháng 10 năm Quư-Mùi (1283), vua Nhân-Tông phong cho Trần-Quốc-Tuấn làm “Quốc-Công Tiết-Chế” (Tổng Tư Lệnh) thống lĩnh toàn quân Đại-Việt đế chống quân Nguyên.     

(41)- Sang năm Giáp-Thân (1284), Hưng-Đạo-Vương (Trần-Quốc-Tuấn) ban Lệnh:

1. Toàn quân từ Tướng tới binh đều phải giữ nghiêm luật.     2. Phải giữ niềm-tin với toàn dân.   3. Phải đồng-tâm đánh giặc. 

4. Thắng không kiêu và lơ-là. Thua không nản chí hay đầu hàng.   5. Phải kiên-tŕ đợi thời với chí quyết thắng.

(42)- Sau khi ban nghiêm Lệnh, Hương-Đạo-Vương phân vùng trách nhiệm cho các Tướng Quân:  Trần-B́nh-Trọng, trấn giữ B́nh-Than.    Trần-Khánh-Dư, trấn giữ Vân-Đồn.     Các Vương-Hầu, trấn giữ các yếu điểm làng thôn…

Riêng Hưng-Đạo-Vương th́ tập-trung đại quân ở Vạn-Kiếp; để bổ xung quân yểm-trợ cho tất cả các nơi…

(43)- Về sau, được tin Quân Nguyên đang tập trung tại Hồ-Quảng sắp tiến sang mặt Lạng-Sơn, Vua Nhân-Tông sợ quân Đại-Việt chống không nổi; liền sai Sứ sang Tàu xin nghị ḥa hoăn binh. Nhưng Hốt-Tất-Liệt (Vua Nguyên) không chịu. Trái lại c̣n sai con là Thái-Tử Thoát-Hoan điều quân sang xâm-lấn Đại-Việt.

 

Nhân-Tông nghe được tin đồn;

Triệu-tập bô-lăo tinh-khôn… Diên-Hồng: (44)

“Đại-Việt nên thoái, hay công…

Quân ta lực yếu; khó ḷng chống đương!?”

Toàn dân nhất-chí; một phương:

“Hy-sinh cứu Nước; chớ nhường giặc Nguyên!” (44)

Đánh cho tan xác bạo quyền;

Kẻ thù truyền kiếp Mông-Nguyên phải gờm.”

Nhân-Tông nghe thỏa nguồn-cơn;

Lệnh cho Hưng-Đạo; lực dồn phạt Mông. (44)

Thoát-Hoan; Nguyên tặc qúa ngông; (45)

Lùa năm mươi vạn; (45) qua đồng Lạng-Sơn.

Sai tên A-Lư hỏi dồn:

“Nguyên quân mượn ngơ; dạy khôn Chiêm-Thành. (45)

Đại-Việt nếu cứ chối quanh,

Quân Nguyên sẽ phá tan-tành Việt-Nam.” (45)

Hưng(Đạo)-Vương nghe nói… giận căm;

Tiến lên Ki-Cấp; Nguyên nằm Lộc-Châu.

Lệnh quân giữ các tuyến đầu;

Khả-Li, Khưu-Cấp, Lộc-Châu canh-pḥng.

Quân Nguyên, lực-lượng qúa đông;

Tướng quân Đại-Việt; chống pḥng gian-nan.

Giặc Nguyên; như lũ lan-tràn…

Li, Châu thất-thủ, quân Nam phải lùi;

Chi-Lăng cố-thủ không lui,

Giặc Nguyên tràn đến, tạm lùi Bái-Tân.

Yết-Kiêu, Dă-Tượng (46) trung-thần;

Cùng theo Hưng-Đạo, điều quân lui dần.

Trở về Vạn-Kiếp gom quân;

Được hai mươi vạn; tướng quân kiên-cường.

---------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(44)- Tháng chạp năm Giáp-Thân (1284), khi nghe được tin Thoát-Hoan đă đem quân tới Ải Nam-Quan, và sắp tiến vào Lạng-Sơn. Thái-Thượng-Hoàng (Vua Trần Thánh-Tông) cùng với con là vua Trần-Nhân-Tông đă cho triệu-tập các Bô-Lăo trưởng-thượng và bá quan văn, vơ Triều-Đ́nh tại điện D́ên-Hồng; để tham-khảo ư kiến: “Đại-Việt nên ḥa hay chiến với quân Nguyên.?” và t́m phương để chống đỡ. Kết-qủa, toàn quân, dân trong Hội-Nghị Diên-Hông đều đồng thanh xin đánh: “Đánh cho tan xác bạo quyền; Kẻ thù truyền kiếp Mông-Nguyên phải gờm…!” Sự nhất chí quyết tâm của toàn quân dân, khiến vua Nhân-Tông và Thái-Thượng-Hoàng yên tâm; đồng thời lệnh cho Trần-Hưng-Đạo dồn toàn lực để chống lại quân Mông-Nguyên.    

(45)- Bấy giờ Thoát-Hoan đem 50 vạn quân; chia làm hai đạo tiến đánh Đại-Việt. Ở phía Bắc, đại quân Mông-Nguyên tiến vào Lạng-Sơn qua các ải Kha-Li (hay Khả-Lư), Nữ-Nhi, Lộc-Châu… rồi tiến vào ải Chi-Lăng… Phía Nam, sai Toa-Đô dẫn 10 ngàn thủy quân từ Quăng-Châu đi đường biển; tiến đánh Chiêm-Thành rồi ra Nghệ-An; để đánh ra Bắc. Tại Nghệ-An, quân Toa-Đô gặp phải sự chống cự của Thượng-Tướng Trần-Quang-Khải nên không làm ǵ được.   

(46) Dă Tượng và Yết Kiêu là hai gia thần thân tín của Trần Hưng Đạo. Dă Tượng là người có tài thuần phục và chỉ huy đội voi (Dă Tượng có nghĩa là voi rừng: tượng binh) ở Vạn Kiếp, c̣n Yết Kiêu là người chỉ huy đội lính đánh sông. Đoạn văn sau trích từ Đại Việt sử kư toàn thư có nhắc đế ông: Trước đây, Hưng Đạo Vương có 2 người nô là Dă Tượng và Yết Kiêu, đối xử rất hậu. Khi quân Nguyên tới, Yết Kiêu giữ thuyền ở Băi Tân, Dă Tượng th́ đi theo. Đến lúc quan quân thua trận, thuỷ quân tan cả. Hưng Đạo Vương định rút theo lối chân núi. Dă Tượng nói: "-Yết Kiêu chưa thấy Đại Vương th́ nhất định không rời thuyền". Dă tượng đă lập nhiều chiến công trong Kháng chiến chống Nguyên - Mông, đời Trần. Ông cùng với Yết Kiêu, Cao Mang, Đại Hành và Nguyễn Địa Lô là 5 thuộc hạ tài giỏi và trung thành của Hưng Đạo Vương. Trong cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên, ông đóng góp đắc lực, tận t́nh bảo vệ chủ tướng.Chính ông và Yết Kiêu có công lớn trong trận bắt sống Toa Đô. Ông nổi tiếng là một tướng dũng-cảm tài-giỏi dưới trướng của Trần Hưng Đạo. Yết Kiêu (1242-1301); là anh hùng chống giặc ngoại xâm vào đời nhà Trần, người có công giúp Nhà Trần chống giặc Nguyên Mông vào thế kỷ XIII với biệt tài thủy chiến. Ông là người bơi lặn giỏi, đă xử dụng tài của ḿnh để đục thuyền của quân xâm lược Nguyên Mông.

 

 

Nghe tin Hưng-Đạo đại vương; (47)

Lui quân Vạn-Kiếp; (47) t́m đường kháng Mông.

Nhân-Tông ái-ngại trong ḷng; (47)

Ngự thuyền đến bến; bên ḍng Hải-Dương (Hải-Đông).

Ngài mời Chủ-Tướng(47) Hưng(Đạo)-Vương;

Bàn mưu, tính kế, (47) t́m đường phản công.

Trước tiên, Ngài hỏi ư Ông:

“Quân ta lực yếu, (47) giặc đông bội phần.

Hay Ta hàng địch, cứu dân; (47)

Tránh muôn tai kiếp; hại dân sau này…!?”

Hưng-Vương nghe Ngài; tỏ-bày…(47)

Dẫu ḷng thổn-thức; đắng-cay vô ngần…!

Nhưng tâu: “ Chúa Thượng thương dân; (47)

Là ơn Trời, Phật, phúc dân được nhờ…!(47)

Nhưng c̣n Xă-Tắc quân-cơ; (47)

Danh hùng Tôn-Miếu, cơi-bờ th́ sao…!?(47)

Nếu Ngài hàng giặc, xin trao; (47)

Đầu Tôi, thân xác; thế vào cống Nguyên.”

Nhân-Tông nghe nói… dạ yên;

Lệnh cho Hưng-Đạo; toàn-quyền phân-công. (47)

---------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(47)- Khi nghe được tin Hưng-Đạo vương không chống cự nổi với 50 vạn quân của Thoát-Hoan, tiến đánh vào núi Ki-Cấp, Khả-Li và Lộc-Châu… phải lui quân về Ải Chi-Lăng. Sau đó, Thoát-Hoan lại tiến đánh Chi-Lăng, Hưng-Đạo vương v́ yếu thế lại phải rút về bến Bái-Tân, rồi cùng với Dă-Tượng và Yết-Kiêu xuống thuyền về cố thủ ở Vạn-Kiếp. Vua Nhân-Tông bèn xuống thuyền về Hải-Đông(Hải-Dương) và cho mời Hưng-Đạo đến; bàn mưu tính kết phản Mông-Nguyên. Tuy nhiên, v́ Vua cảm thấy lo sợ trước lực-lượng 50 vạn quân hùng-hậu của Thoát-Hoan; nên Ngài đă ḍ ư với Hưng-Đạo rằng: “Thế giặc mạnh như vậy, nếu ta chống cự với chúng, th́ dân ta sẽ bị tàn hại vô cùng, hay Trẩm hăy ra đầu hàng giặc để cứu lấy muôn dân ḿnh…?”

Nghe Vua nói vậy, Hưng-Đạo vương tâu rằng: “Bệ-Hạ có ḷng nhân đức, thương yêu và nói như vậy; th́ phúc cho muôn dân! Nhưng c̣n Tôn-Miếu, Xă-Tắc… th́ sao…??? Nếu Bệ-Hạ muốn hàng, xin hăy chém đầu Tôi trước đă, sau đó hăy ra hàng!” Khi nghe được lời qủa-quyết trung-liệt như vậy của Hưng-Đạo vương. Vua Nhân-Tông cảm thấy tin-tưởng và yên ḷng; đồng thời giao cho Hưng-Đạo toàn quyền thống lănh toàn quân để chống lại giặc Mông-Nguyên...

 

 

Hưng-Vương, ban “Sách Quốc-Pḥng”. (48)

“Địa phương hiểm-yếu; vườn không, trống nhà.

Nếu Mông áp-đảo quân ta;

Tướng, binh quyết-chiến, không ra đầu-hàng.

Khi Mông tiến tới lan-tràn;

T́m rừng trú-ẩn, không làm hàng binh.

Phản-công, phải lựa t́nh-h́nh;

Nơi nào Mông yếu, quân ḿnh diệt ngay…!

Tướng quân, phải rỏ “Sách” này;

Địch đông, ta thoái… chờ ngày phản-công.”

“Binh-Thư Yếu-Lược” quốc-pḥng;

Ta soạn phổ-biến; phải thông, thi-hành:

“Ngày xưa, Kỷ-Tín (49) liều thân;

Cứu vua Hán-Đế, thoát thành Hoàng-Dương.

Do-Vu (50) đỡ giáo, một phương;

Cứu Vua nước Sở, Chiêu-Vương Hùng-Trần.

Dự-Nhượng, (51) người Tấn nuốt than…

Phục thù nuôi chí; trung-thần Trí(Bá)-Dao. (51)

Tề-phu Thân-Khoái, mưu cao;

Chặt tay cứu Nước, sát-sao vua Tề.

“Uất-Tŕ, Kính-Đức, say mê;

Giải-vây; địch hăm bốn bề Thái-Tông.

Cảo-Khanh, Quan ải biên-pḥng;

Già gân chửi giặc, chẳng ḥng thiệt thân.

Xưa nay, nghĩa-sĩ trung-thần;

Thời nào cũng có; xả thân cứu “Nhà”. (52)

Danh thơm lưu Sử… đồn xa;

Sống già chết nhát, xó nhà mà thôi.

Các Ngươi, vốn đă một thời;

Công-hầu khanh-tướng, chuyện đời ngờ, tin…!?

-------------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(48)- Đại-Vương Trần-Hưng- Đạo (1228=> 20-08-1300); Ông nổi tiếng trong Lịch Sử với vai tṛ Tổng Chỉ Huy Quân Đội Đại Việt. Ba lần đánh thắng quân Nguyên-Mông trong thế kỷ 13; dưới thời Hốt-Tất-Liệt. Chiến thắng của Ông trước đội quân Nguyê-Mông là một trong những chiến công vĩ đại của Lịch Sử quân sự Việt-Nam và thế giới. Được coi là một trong những nhà quân sự kiệt xuất nhất trong Lịch Sử. Tư tưởng quân sự của ông đă được thể hiện rỏ nét  trong các luận thuyết, tác phẩm “Binh-Thư Yếu-Lược” của ḿnh. (Trích Web site:  Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

Bản “Binh-Thư Yếu-Lược” này viết bằng Hán văn, được Sử-Gia Trần-Trọng-Kim dịch ra tiếng Việt; từ cuối trang 139 đến trang 142; trong cuốn  “Việt-Nam Sử Lược” quyển I của Ông.

Phần chữ nghiêng từ trang 172 đến hết trang 178 (Trong Đại Thi Tập “DANH SỬ VIỆT”, phát hành tháng 11-2017 tại Sydney)… là “Bản Phóng Tác” của Tác-Giả với thể Thơ Lục-Bát; viết về  “Binh-Thư Yếu-Lược”: “Sách Quốc Pḥng” của Đại-Vương Trần-Hưng-Đạo.

(49)- “Kỷ-Tín”: Năm 204 trước Công nguyên, chiến tranh Hán, Sở đi vào giai đoạn khốc-liệt. Vua Hán Lưu-Bang (Hán Đế) và quần thần bị vây khốn trong thành Hoàng-Dương, không lối thoát… Kỷ-Tín là một danh tướng trung thần, bày mưu để cứu Hán-Đế thoát Thành bằng cách: Ông tự nguyện đóng vai Hán-Đế ngự trong một chiếc xe ngựa màu vàng có mái che, và được vây quanh bởi hơn 2 ngàn quân Hán, rồi cùng với đoàn quân tiến ra trước cửa Thành; trước sự bao vây của mấy vạn quân Sở do Hạng-Vũ chỉ-huy (Giống như Lê-Lai cứa Lê-Lợi… trong Sử Việt-Nam; thời Hậu-Lê.). Hạng-Vũ ra lệnh quân Sở phải bắt sống Hán-Đế. Thế nhưng, khi quân Sở đến gần mới phát hiện hơn 2 ngàn quân Hán toàn là đàn bà và trẻ con. Khi Hạng-Vũ tới trước cửa xe ngựa, dùng kiếm để vén tấm màn, bắt sống Hán-Đế. Nhưng thật bất ngờ; người dũng tướng từ trong xe bước ra, không phải là Hán-Đế, mà là dũng tướng Kỷ-Tín của nhà Hán. Ông nói cho Hạng-Vũ biết là Hán Vương đă ra khỏi thành Hoàng-Dương từ lâu rồi. Kết cục, Kỷ-Tín bị Hạng-Vũ bắt và thiêu chết.

(50)- “Do-Vu”: Thời Xuân-Thu, Sở Chiêu Vương Hùng-Trần đi lánh nạn, bị kẻ cướp đuổi theo, Ông chui vào bụi rậm để trốn. Bọn cướp dùng giáo đâm vào bụi rậm để t́m. Tướng Do-Vu (50) là một trung thần, đă đưa lưng ra đỡ ngọn giáo cho Vua. Sau đó ông dùng đất để xóa sạch các vết máu nơi ngọn giáo. Nhờ thế Sở Chiêu Vương được thoát nạn. 

(51)- “Dự-Nhượng”: Là một thích-khách giỏi thời Xuân-Thu Chiến-Quốc. Ông là người Tần, sau đến sống và trở thành người Tấn. Ông kiên tŕ đến ám-sát Triệu-Tử-Dương, để báo thù cho chủ là Trí-Bá-Dao; là người có quyền lực nhất của nước Tấn.

(52)- “Nhà”: Là Quốc-gia.

 

 

Nay Ta nói rỏ thế-t́nh;

Chuyện đời nhà Tống, Nguyên; t́nh-h́nh xưa.

Công-Kiên, (53) danh tướng không vừa;

Cùng tỳ tướng Lập; (53) Tống xua Mông-Khà (Mông-Kha). (54)

Điếu-Ngư, (55) thành nhỏ can-qua;

Quân Mông trăm vạn, thế mà phải thua…!

Đến nay, dân Tống ơn xưa;

Tôn thờ danh Tướng; ơn Vua ngàn đời.

Ngột-Lang, (56) Mông tướng một thời;

Cùng tỳ tướng Xích, (56) đánh tơi Nam Triều.” (57)

“Khiến vua Thát-Đát (Mông-Cổ) thương yêu;

Đến nay măi nhớ; trăm điều tiếng thơm.

Ta, Ngươi; vận-hạn oán-hờn;

Sứ Nguyên hống-hách lơn-tơn ngoài đường.

Rẻ kinh Đại-Việt Triều-Cương;

Mượn danh Hốt(-Tất)-Liệt, t́m phương cướp càn.

Dựa lưng Hốt(-Kha)-Kích, (58)  Vương-Nam

Vét-vơ châu ngọc, bạc vàng; Lụa tơ.

Khác nào hổ đói chực-chờ;

Mồi ngon no thỏa, cướp vồ cả kho.

Ta đây, ngày tháng âu-lo;

Quên ăn, quên ngủ, tơ ṿ ruột gan.

Hằng ngày, nước mắt lan-tràn;

Những mong cắt tiết, moi gan giặc thù.

Thân này khắc-khoải, ưu-tư;

Bọc thây da ngựa, diệt thù Mông-Nguyên.

Các Khanh cũng giữ binh quyền;

Cùng Ta giết giặc, lo yên Nước Nhà.

Công lao Khanh Tướng xông-pha;

Thiếu cơm, thiếu áo; có Ta chu toàn.”

-----------------------------------------------

GHI CHÚ:

(53)- “Công-Kiên”: (Có Sách ghi là Vương-Công-Kiên.): Là một danhTướng của nhà Tống, cùng với tỳ tướng Nguyễn-Văn-Lập (có Sách viết là Vương-Lập), trấn giữ thành Điếu-Ngư; có diện tích 2,5km vuông. Đă đánh bại vua Mông-Cổ là Mông-Kha (anh của Hốt-Tất-Liệt) với vài chục vạn quân; kéo dài suốt 36 năm(1243-1279) vẫn không thắng được.  

(54)- “Mông-Khà(Mông-Kha).”: Là Anh của Hốt Tất Liệt; là Vua Mông-Cổ; sau thời Thành-Cát Tư-Hăn.   

(55)- “Điếu-Ngư”: Thành Điếu-Ngư có diện tích khoảng 2,5km vuông, nằm ở phía Nam sông Gia-Lăng, quận Hợp-Xuyên(Trùng-Khánh), tỉnh Tứ-Xuyên, Trung-Quốc.

(56)- “Đường-Ngột-Ngại”: (Ngột-Lang) và tỳ tướng Xích-Tu-Tư;(56) là hai danh tướng nhà Mông-Nguyên, đă đánh thắng quân nước Nam-Chiếu (tiền thân nước Đại-Lư sau này) chỉ trong vài tuần;khiến vua Mông-Nguyên phải nể phục.    

(57)-“ Nam Triều: Nước Nam-Chiếu.”: Tiền thân của nước Đại-Lư sau này.  

(58)- “Hốt-Kha-Kích”: Là con trai Hốt-Tất-Liệt, được vua cha phong cho làm Vương xứ Vân-Nam. (Tức nước Nam-Chiếu và là Đại-Lư về  sau.)

 

“Quân-hàm c̣n thấp, Ta ban;

Quan cao lộc hậu; rỡ-ràng thanh-danh.

Đường trường, cấp ngựa phi nhanh;

Nếu đi đường thủy; Ta dành thuyền xuôi.

Lúc vui, nhàn-hạ; cùng cười…

Lâm nàn, sống chết ngoai-nguôi nỗi buồn…!

Cách Ta đối xử; vương tôn…

Khác chi Đường-Ngại; măi đồn Vương-Kiên. (53 ) đă nói ở trên.

Nếu Vua gặp phải nhục phiền;

Ngươi Thần, không đoái; nỗi niềm ai hay!?”

“Giả như “Quốc-Sĩ” (59) bị giày…

Ngươi không biết nhục, kiếp này sống chi…?

Thân ngươi, làm Tướng chỉ-huy;

Phải đi hầu giặc; có ǵ là vinh!?

Khi nghe nhạc trổi xập-x́nh…

Đón chào “ngụy Sứ”; phận ḿnh tráo-trơ!?

Hay khi vui-thú vu-vơ;

Chọi gà, cờ bạc, lăng-lờ việc binh.

Hoặc v́, mưu sự cho ḿnh;

Chỉ lo nhà, ruộng, riêng t́nh vợ con.”

“Không màng đến chuyện “Nước Non”;

Nhà tan, Nước mất, Ngươi c̣n cái chi…?

Cũng như ham rượu; lâm-ly…

Say-mê “đào hát”, ngựa phi săn mồi.

Có tṛn bổn-phận Vua, Tôi;

Giặc Mông-Thát (60) tới; xứng đời cầm quân!?

Nếu như Nguyên-Tặc rần-rần;

Xua quân tràn tới… Quân, Thần ra sao!?

Cựa gà, có thủng áo bào;

Rượu ngon,“đào hát”… có xao-xuyến thù!?”

-------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(59)- “Quốc-Sĩ”: Sĩ-diện và Danh-dự Quốc-Gia.

(60)- “Mông-Thát”: Là giặc Mông-Cổ.

 

 

“Bấy giờ chẳng thẹn lắm ru;

Vua, tôi… bị bắt nhốt tù; c̣n chi…?

Nhà tan, Nước mất; ai-bi…

Hiền thê, Hoàng-hậu; c̣n ǵ để vui…!?

Nhục, Ta phải gánh ngậm-ngùi;

Nhục Ngươi cũng vậy; rúc-chui muôn đời!

Bấy giờ Ngươi c̣n thảnh-thơi;

Say-mê tiếng hát, ngọt hơi rượu nồng!?

Chắc sự vui thỏa… là không;

Chỉ c̣n khổ-nhục, xiềng gông mạt đời!”

“Nay Ta bảo thật các Ngươi…”;

Phải nên cẩn-trọng; mười mươi quân-t́nh.

Hàng ngày nhủ-bảo quân binh;

Luyện tu cung kiếm, thể h́nh xứng cân.

Khoẻ như Hậu-Nghệ, (61) cung thần;

Bàng-Mông (61) cũng thế, rành phần đao cung.

Sao cho quân, Tướng… Việt hùng;

Phanh thây Hốt (Tất)-Liệt, tàn-hung cướp càn.

Lột da Hốt (Kha)-Kích, vương Nam;

Tiêu-diệt giặc cướp hung-tàn Mông-Nguyên.”

“Xứng danh Đại-Việt khắp miền…

“Sử Vàng” muôn thuở; Tổ-Tiên thỏa ḷng!

Rỡ-ràng Tông-Miếu… Ta mong;

Rạng danh, thơm tiếng; Giống Ḍng các Ngươi!

Bổng-lộc, Ngươi hưởng thảnh-thơi;

Vợ con đầm-ấm, no đời trăm năm.

Nay Ta quyết-chí nhủ-răn;

Các Ngươi “Binh-Pháp”; tiếng-tăm nhiều đời.

Sĩ hùng, danh tướng khắp nơi…

“Binh-Thư Yếu-Lược”; cơ-trời ngàn năm!”

------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(61)- Hậu-Nghệ với tỳ tướng Bàng-Mông; là hai danh tướng của nước Hữu-Cùng, rất giỏi về thuật bắn cung. Về sau Hậu-Nghệ làm vua Tiểu Vương Quốc Hữu-Cùng, lệ thuộc Nhà Hạ. Nhưng sau đó lại cướp Ngôi và làm vua Nhà Hạ.

 

 

“Nếu như, Ngươi biết chuyên-chăm;

Luyện tu “Sách-Lược”, để tâm noi t́m.

Sẽ là Thần-Tử đáng tin;

Ta luôn trông-cậy; vững tin thắng thù!

Nhược bằng lười-biếng, ngao-du…

Bỏ-bê, khinh “Sách”: Kẻ thù của Ta!

Ta, Ngươi; không thể chung nhà;

Chung trời, chung đất; cùng Ta một thuyền.

Bởi Ta với bọn giặc Nguyên;

Kẻ thù truyền kiếp; có yên được nào!?”

“Sao Ngươi không thể ngước cao;

Báo thù Mông-Cổ, tràn vào “Nước Nam”?

Lại không dạy-dỗ binh-đoàn;

Thân là Tướng-lănh; sao đang phản thần,

Rồi quay ngọn giáo vào dân;

Chạy theo giặc cướp; kiếm phần lợi danh!?

Xưa kia “B́nh-Lỗ” (62) thắng nhanh;

Khiến cho quân Tống tanh-banh, hăi-hùng.

Cũng v́ binh, Tướng tín-trung;

Cùng Hoàn (62) vinh thắng, danh lừng muôn năm!”

“Nay Ta cảm thấy khó-khăn;

Các Ngươi thối-chí; không căm diệt thù.

Đời Ta, chẳng hổ lắm ru;

Các Ngươi cũng vậy; ngàn thu tiếng đời!?

Bởi vậy Ta tỏ các Ngươi;

Ḷng Ta như thế; mười-mươi rơ-ràng.

Rồi hoàn “Binh-Lược”, (63) Ta ban;

Các Ngươi hiểu rỏ; sẵn-sàng diệt Nguyên!

Mọi người chứng tỏ lời nguyền;

Khắc tay: “Sát Đát!”; (64) diệt Nguyên hung-tàn!!!”

---------------------------------------------------------------  

GHI CHÚ:   

(62)- “B́nh-Lỗ”: Là một Thành cổ được Tướng Lê-Hoàn (tức vua Lê- Đại-Hành) (62) xây dựng thời kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất vào năm 981. Hưng-Đạo-Vương (Trần-Quốc-Tuấn); đă đánh giá rất cao về chiến thắng này và đă đưa vào “Binh-Thư Yếu-Lược”; để răn dạy quân, Tướng nhà Trần noi theo… hầu lên tinh-thần để diệt giặc Mông-Nguyên.       

(63)- “Rồi  hoàn “Binh-Lược”: Trần-Hưng-Đạo; Soạn hoàn-thành “Binh-Thư Yếu-Lược Quốc Pḥng”.

(64)- “Khắc tay Sát-Đát (hay Sát-Thát)”: Khắc vào cánh tay hai chữ: Thề Giết Mông-Cổ.

 

Toàn quân nhận lệnh (Hưng)-Đạo (65) ban;

Tướng, binh Đại-Việt, sẵn-sàng kháng Mông.

Mọi người thề quyết một ḷng:

Quyết-tâm “Sát-Thát (hay Đát)”; (64) Thăng-Long giữ-ǵn.

Thoát-Hoan, khi nhận được tin;

Kéo quân qua ải; địa-h́nh Lạng-Sơn.

Tấn-công Vạn-Kiếp… Sóng cồn;

Hưng(Đạo)-Vương yếu thế, lực dồn lui binh.

Thoát-Hoan, làm chủ t́nh-h́nh;

Kéo qua Kinh-Bắc, cho binh cướp càn.

Vơ-Ninh, Lâm, Ngạn; (66) hoang tàn;

Bởi bầy giặc cướp hung-tàn Nguyên-Mông.

Thoát-Hoan, Tướng cướp qúa ngông;

Cướp xong, chúng tiến về Đông-Bộ-Đầu.

Hưng(Đạo)-Vương, thâm ư mưu sâu;

Lui quân Nam ngạn, (67) ngơ-hầu dưỡng binh.

Nhằm khi xoay-chuyển t́nh-h́nh;

Điều quân; kháng-cự quân binh giặc Tàu.

Thoát-Hoan, đóng trại đă lâu;

Bổng dưng nhác thấy, lắm đầu Việt-binh.

Lô-nhô thấp-thoáng bóng-h́nh;

Luyện quân trong chốn trại binh Hồng-Hà. (67)

Hoan dùng đại-bác bắn qua;

Quân Nam rút chạy, vườn nhà trống không.

Quân Nguyên tiến đến Thăng-Long;

Vào Thành, chỉ thấy trống không Cung-Đ́nh.

V́ chưng Đại-Việt lui binh; (68)

Theo sông Thiên-Mạc; về kinh Thiên-Trường. (68)

Triều-Đ́nh ra lại Hải-Dương. (68)

Sai Trần-Quang-Khải, chận đường Toa-Đô.

--------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(65)- “Đạo”: Là Danh Tướng Trần-Hưng-Đạo.  

(66)- Sau khi chiếm được Vạn-Kiếp, quân Mông bắt được một số tù-binh Đại-Việt; thấy trên cánh tay người nào cũng khắc chữ: “Sát-Đát”(hay Sát-Thát theo Việt Sử Toàn Thư), chúng căm giận và giết sạch. Sau đó, Thoát-Hoan cho quân dồn qua Kinh-Bắc, và mặc sức cho quân cướp phá các vùng Vơ-Ninh, Gia-Lâm và Đông-Ngạn. Cướp xong, chúng tiến về đóng quân ở bến Đông-Bộ-Đầu.  

(67)- “Nam-Ngạn Hồng-Hà”: Là vị trí gần Thành Thăng-Long; Là nơi Trần-Hưng-Đạo cho quân lui về đóng ở đây để chỉnh-đốn lại lực-lượng, hầu có thể giữ Thành Thăng-Long và chờ thời thuận-tiện để phản công chống lại quân Nguyên. Nhưng khi Thoát-Hoan phát giác sự xuất hiện quân Đại-Việt ớ đó; liền dùng đại-bác bắn qua.  

(68)- Trước t́nh-h́nh đó; Hưng Đạo-Vương liền dẫn Vua Nhân-Tông, Thái Thượng Hoàng  và Triều-Đ́nh cùng Quân Đại-Việt; rút lui về phía Nam, dọc theo sông Thiên-Mạc để về kinh đô thứ hai là Thiên-Trường (68)  ở Nam-Định; bỏ lại Thăng-Long với vườn không nhà trống. Nhưng khi hay tin Toa-Đô từ Chiêm-Thành (Hà-Tĩnh) tiến ra Nghệ-An, để phối hợp cùng với Ô-Mă-Nhi, đánh từ trong đánh ra… Hưng-Đạo-Vương đă đề nghị với Vua Nhân-Tông: Sai Tướng Trần-Quang-Khải, đem quân vào Nghệ-An, để chận đường tiến quân của Toa-Đô. Đồng thời sai Tướng Trần-B́nh Trọng ở lại Thiên-Trường chận đường truy đuổi của quân Mông-Nguyên. C̣n Hưng-Đạo đưa Thái-Thượng-Hoàng và vua Nhân-Tông cùng Triều-Đ́nh và đại quân ra lại Hải-Dương (69) để theo dơi t́nh h́nh chiến sự.

 

 

Nghệ-An: Binh, Tướng xô-bồ; (70)

Kiện-Trần, Lê-Tắc (70) hàng Đô; giặc Tàu.

Trần-Quang (Khải) yếu thế lui mau;

V́ chưng Kiện, Tắc hàng Tàu; theo Mông.

Không cùng chung sức một ḷng;

Trần-Quang (Khải) v́ thế tránh Mông… Quân ḿnh.

Để chờ theo dơi t́nh-h́nh…

Báo tin Vua biết, chiến t́nh Nghệ-An.

Được tin Trần-Kiện quy hàng; (71)

Toa-Đô đưa Kiện về hàng Yên-kinh.

Hưng (Đạo)-Vương biết rỏ t́nh-h́nh;

Sai quân bắt “lũ tội t́nh” (72) phản Vua.

Lạng-Sơn: Kiện, Tắc bị lùa;

Gặp ngay Lộc, Lĩnh; Nguyên thua chạy dài.

Trần-Kiện bị trúng tên bay;

Chết ngay tại chỗ; xác thây Tắc vùi.

Về phần Lê-Tắc rúc chui;

Chôn xong xác Kiện; tháo lui về Tàu.

Ghi lại trang Sử ngàn sau:

“An-Nam Chí-Lược”, (73) chuyện Tàu, chuyện Ta.

Sách này, (73) chỉ ở Nhật, Hoa;

Nước ta không có “Sử Nhà”; (73) Tắc ghi…

Mai sau hậu-duệ muốn truy;

Sang Tàu, sang Nhật; lục truy Sử tường.

Trần(B́nh)-Trọng (74) trấn giữ Thiên-Trường.

Chận Nguyên truy đuổi; cản đường tiến công.

Đà-Mạc, (75) Nguyên giặc qúa đông;

Trần-B́nh(Trọng) bị bắt; nhưng không quy hàng.

Quân Nguyên giao đến Thoát-Hoan;

Thoát-Hoan dùng kế dụ hàng; (76) theo Mông.

----------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(70)- Khi Thượng-Tướng Trần-Quang-Khải đưa quân vào đến Nghệ-An, Ông chia quân ra để trấn giữ. Nhưng thấy t́nh h́nh chiến sự ở đây thật hỗn-loạn. V́ viên Tướng trấn thủ Nghệ-An là Trần-Kiện (70) cùng viên quan phụ tá là Lê-Tắc (70) và gia đ́nh; cùng với binh lính dưới quyền đều đă ra đầu hàng Toa-Đô. Không hợp lực với Ông để chống lại quân Mông-Nguyên.V́ thế, để bảo toàn lực-lượng, Tướng Trần-Quang-Khải đă cho lui binh, và theo dơi t́nh-h́nh chiến sự. Đồng thời báo cho vua Nhân-Tông và Thống-soái Trần-Hưng-Đạo biết t́nh-h́nh chiến sự ở Nghệ-An.  

(71)- Khi Vua Nhân-Tông và Trần-Hưng-Đạo hay tin Trần-Kiện và Lê-Tắc đă ra đầu hàng. Và Toa-Đô đang cho người đưa Trần-Kiện và Lê-Tắc về Yên-Kinh (Bắc-Kinh). Trần-Hưng-Đạo liền sai một vị Tướng đem quân đi đường tắt đuổi theo Trần-Kiện, Lê-Tắc và đồng bọn.   

(72)- Khi tới địa hạt Lạng-Sơn, Trần-Kiện và Lê-Tắc bị hai người thổ địa ở đây là Nguyễn-Thế-Lộc và Nguyễn-Lĩnh, đem quân ra vây đánh. Cùng lúc quân truy đuổi cũng đă đến nơi. Quân Nguyên thấy vậy đă bỏ chạy… và Trần-Kiên bị trúng tên, chết tại chỗ. Xác Kiện được Lê-Tắc và gười nhà cướp được, đưa đến g̣ Ôn-Khâu (Lạng-Sơn) mai táng. Sau đó Lê-Tắc và đồng bọn trốn sang Tàu. Về sau Lê-Tắc có ghi lại bộ Sử: “An-Nam Chí-Lược”.  

(73)- Bộ Sử “An-Nam Chí-Lược” này; hiện c̣n có ở bên Tàu và Nhật-Bản. Việt-Nam không có. Nếu Ai muốn biết rỏ vể giai-đoạn Lịch-Sử này do Tắc ghi… để đối chiếu; th́ hăy sang Tàu hay Nhật mà t́m.   

(74)- Bảo-Nghĩa vương Trần-B́nh-Trọng được lệnh Vua ở lại trấn giữ Thiên-Trường. Hầu cản đường quân Nguyên tràn tới. Nhưng khi Ông thấy Quân Nguyên kéo tới băi Đà-Mạc  hay Tha-Mạc), (75) liền đem quân ra chận. Nhưng v́ quân Nguyên qúa đông, nên Ông đă bị vây bắt, nhưng quyết không quy hàng, và quân Nguyên đă giải-giao Ông cho Thoát-Hoan.  

(76)- Thoát-Hoan thấy Trần-B́nh-Trọng là một Tướng tài, khoẻ mạnh; muốn dụ Ông hàng quân Nguyên;  đồng thời hỏi: “Ông có muốn Ta phong Ông làm Vương đất Bắc không?” Trần-B́nh-Trọng đă khẳng-khái trả lời: “Ta thà làm qủy Nước Nam an-b́nh, c̣n hơn làm Vương Đất Bắc của các ngươi”. Thoát-Hoan nghe nói thế, liền sai quân đem Ông đi chém.

 

 

Rằng: “Ông có muốn Tôi phong;

Làm Vương đất Bắc, giống ḍng phồn-vinh!?”

“Ta thà làm qủy Nam b́nh;

C̣n hơn Vương Bắc; Yến-Kinh các người…!”

Thoát-Hoa nghe nói hổ ngươi;

Sai người đem chém; chết tươi trung Thần.

Nghe tin Trần (B́nh)-Trọng xả thân; (77)

Hy-sinh v́ Nước; báo ân Lạc-Hồng.

Thượng-Hoàng, Hưng-Đạo, Nhân-Tông;

Tiếc thương dũng Tướng, “Giống-Ḍng Trần-Gia”.

Quân Nguyên áp-đảo quân ta;

T́nh-h́nh nguy-ngập; khó mà chống đương.

Hưng(Đạo)-Vương nghĩ kế t́m đường; (78)

Theo sông Tam-Chỉ, (78) đến phường Quảng-Yên.

Để cho kế-hoạch vẹn tuyền;

Hưng sai chuẩn bị một thuyền trống không.

Thuyền này giông-giống Thuyền Rồng; (79)

Đưa thuyền ra cửa; bềnh-bồng Ngọc-Sơn.

Sai người loan-báo tin đồn; (79)

Rằng Vua đă đến Ngọc-Sơn; bôn-đào. (79)

Lư-Hằng, Nguyên tướng mưu cao;

Cùng tên Khoan-Triệt; nghi phao tin đồn…

Nhân-Tông không đến Ngọc-Sơn;

Nhưng sông Tam-Chỉ, lực dồn đuổi theo.

Hưng(Đạo)-Vương thấy sự hiểm-nghèo. (80)

Rước Vua lên bộ; men theo ven đường.

Đến làng Thủy-Chú tạm nương;

Cùng Vua bàn-thảo; t́m đường xuống sông.

Dùng thuyền, không phải Thuyền Rồng;

Thoát sao cho lẹ; ra sông Nam-Triều. (80)

------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(77)- Sau khi Hưng-Đạo-Vương dẫn Vua Nhân-Tông và Triều-Đ́nh từ Thiên-Trường, Nam-Định ra Hải-Dương. T́nh h́nh chiến sự trở nên căng thẳng. Trần-Quang-Khải được sai vào Nghệ-An chận đường tiến của Toa-Đô ra Bắc; để hợp lực với Thoát-Hoan đánh Đại-Việt… Quân Trần-Quang-Khải v́ yếu thế phải rút lui để bảo toàn lực-lượng. Phần Trần-B́nh-Trọng được lệnh ở lại cố  thủ Thiên-Trường, nhưng khi thấy quân Nguyên tràn tới băi Đà-Mạc, đă đem quân chận đánh. Nhưng Ông đă bị vây bắt và bị Thoát-Hoan giết v́ không chịu hàng phục. Khi hay tin Trần-B́nh-Trọng đă hy-sinh tử tiết v́ Nước; Thái-Thượng-Hoàng, vua Nhân-Tông, Hưng-Đạo-Vương và Triều-Đ́nh đều thương tiếc vị dũng Tướng trung Thần của “Ḍng Giống Trần-Gia”.

(78)- Trước t́nh-h́nh nguy-ngập như thế, Hưng-Đạo-Vương đă nghĩ cách đưa Vua Nhân-Tông và Triều-Đ́nh cùng đại quân từ Hải-Dương ra Quảng-Yên bằng đường sông Tam-Chỉ.

(79)- Đồng thời ngụy tạo Thuyền-Rồng, sai người di chuyển ra cửa biển Ngọc-Sơn, để đánh lừa quân Nguyên. Nhưng hai Tướng Nguyên là Lư-Hằng và Khoan-Triệt cho người theo dơi và biết rằng Thuyền Rồng ra cửa biển Ngọc-Sơn là giả, nên chúng đă đuổi theo Vua… trên sông Tam-Chỉ.  

(80)- Trước t́nh-h́nh hiểm-nghèo đó, Hưng-Đạo-Vương lại đưa Vua và Triều-Đ́nh lên đường bộ, đi đến làng Thủy-Chú tạm ẩn. Sau đó lại đưa Vua xuống thuyền, thoát ra sông Nam-Triều (80) Tức là sông Bạch-Đằng(80) thuộc Hải-Dương; rồi vào Thanh-Hóa trở lại; để củng-cố lực-lượng, chờ ngày tổng phản-công.

 

Trở vào Thanh-Hóa; mục tiêu:

Điều quân chỉnh-đốn, tính điều phản công.

Thoát-Hoan, lực-lượng qúa đông;

Bắc-Ninh, cho tới Thăng-Long, Thiên-Trường.

Nơi nào cũng có Nguyên đương; (81)

Nghệ-An, Thanh-Hóa; có phường Toa-Đô.

Thêm Đường-Ngột-Ngải theo pḥ;

Hợp cùng Ô-Mă (Nhi); reo-ḥ đánh ra.

Hưng(Đạo)-Vương điều động quân ta;

Mặc cho Viên, Tắc (82) đă ra đầu hàng.

Phần Ngài, vẫn quyết, hiên-ngang; (83)

Lệnh Trần-Quang-Khải, chận đàng Toa-Đô.

Vượt qua Ô, Lư, xô-bồ;

Hoan-Châu, Châu Ái; đường g̣, sông ngăn.

Toa-Đô, di-chuyển khó-khăn;

Mới mong đến được lănh phần Hải-Dương.

Trần(Nhật)-Duật (84) nhận lệnh cản đường;

Cùng Trần-Quốc-Toản, t́m phương diệt Tàu.

Lại thêm Nguyễn-Khoái cùng nhau;

Vây quanh Hàm-Tử, (84) diệt Tàu: Toa-Đô.

Triệu-Trung, (84) tướng Tống đánh pḥ;

Toa-Đô nghĩ Tống giúp cho quân Trần.

Quân Nguyên hoảng-hốt, chết trân;

Toa-Đô lui chạy, dừng chân Thiên-Trường.

Hắn t́m mọi cách, mọi phương;

Sao cho kết-hợp với phường Thoát-Hoan.

Chiêu(Văn)-Vương, (85)  thắng trận hân-hoan;

Sai Trần-Quốc-Toản, (86)  tin loan Triều-Đ́nh.

Hưng(Đạo)-Vương, khi nhận được tin;

Tŕnh lên Chúa-Thượng, t́nh-h́nh chiến công.

------------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(81)- Quân Mông-Nguyên được Thoát-Hoan bố trí để bao vây Đại-Việt; từ Bắc-Ninh, tới Thăng-Long và vào tới tận Thiên-Trường ở Ninh-B́nh, Nam-Định. C̣n từ Nghệ-An, Thánh-Hóa đánh ra th́ có Toa-Đô, Đường-Ngột-Ngải và Ô-Mă-Nhi.  

(82)- Trần-Tú-Viên và Trần-Ích-Tắc. Riêng Trần-Ích-Tắc, là con thứ của vua Trần-Thái-Tông và là em vua Trần-Thánh-Tông. Nuôi mộng cướp Ngôi Trần-Nhân-Tông. Ngày 15 tháng 3 năm 1285, Ích Tắc đem cả gia đ́nh theo hàng Thoát-Hoan, với hy vọng được lập làm Vua. Khi Thoát-Hoan và quân Nguyên thất bại chạy về nước, Ích Tắc được đưa về Trung Quốc và được Hốt Tất Liệt, phong làm An Nam Quốc vương và chờ ngày đưa trở về nước. Hai năm sau (1287), Ích Tắc lại theo Thoát Hoan sang Đại Việt lần thứ ba.    

(83)- Khi Trần-Hưng-Đạo nhận được tin Trần-Quang-Khải cho biết; quân Toa-Đô và Ô-Mă-Nhi từ Chiêm-Thành đánh ra Nghệ-An đă thất bại v́ lượng thực đă cạn, và quân lính đă mệt mỏi trên đường di chuyển; qua các vùng Ô-Lư (Thuận-Hóa), Hoan-Châu (Nghệ-An), Ái-Châu (Thanh-Hóa). V́ thế, bọn họ đă xuống thuyền ra Bắc; hợp cùng với Thoát-Hoan đế đánh Ta. Hưng-Đạo-Vương đă hội ư với Vua Nhân-Tông; sai Chiêu-Văn-Vương Trần-Nhật-Duật làm Tướng, Trần-Quốc-Toản làm Phó Tướng, hợp cùng với Tướng Nguyễn-Khoái; đem 5 vạn quân ra đón đường đánh Toa-Đô ở mặt Hải-Dương. 

(84)- Phần Chiêu-Văn-Vương Trần-Nhật-Duật, được Vua Nhân-Tông sai làm Tướng, lănh-đạo 5 vạn quân Trần, cùng với Trần-Quốc-Toản làm phó Tướng, phối hợp với Tướng Nguyễn-Khoái; ra chận đường đánh Toa-Đô ở mặt Hải-Dương. Đến tháng Tư năm Ất-Dậu (1285), Trần-Nhật-Duật ra đến bến Hàm-Tử (Hưng-Yên) th́ gặp chiến thuyền của Toa-Đô. Ông đă chia quân ra đánh. Trong hàng ngũ của Ông; có tướng Triệu-Trung và quân binh nhà Tống về hàng phục trước kia, cùng tham gia chiến đấu với quân phục nhà Tống. Quân Toa-Đô nghĩ rằng, Nhà Tống đă  khôi phục được nước Tàu và cho quân sang giúp Nhà Trần, nên hoảng sợ và tháo chạy ngược về cửa Thiên-Trường, t́m đường thoát; đồng thời để kết hợp với Thoát-Hoan.   

(85)- Chiêu(Văn)-Vương: Là Tước-Hiệu của Tướng Trần-Nhật-Duật.

(86)- Sử ghi rằng, khi vua Nhân-Tông triệu tập các Vương Hầu và Tướng Lănh tại Hội-Nghị B́nh-Than; để bàn về việc chống quân Mông-Nguyên… Trần-Quốc-Toản v́ c̣n nhỏ; ch́ 15-16 tuổi, không được vào pḥng hội-nghị để bàn việc. Toản căm tức vô cùng và đă bóp nát trái cam trong ḷng bàn tay lúc nào không hay. Khi tan hội họp, mọi người trở vế chuẩn bị binh thuyền và khí giới để đánh giặc. Toản cũng về chiêu tập thân tộc và các dũng sĩ, được hơn ngàn quân. Chuẩn bị binh khí và may một lá cờ lớn đề sáu chữ: “Phá cường địch, báo Hồng-Ân”… Rồi kéo quân đi đánh giặc. Đánh nơi nào, thắng nơi đó và quân giặc phải rút lui.

 

 

Đồng thời tâu với Nhân-Tông:

“Quân Ta mới thắng, chiến-công vang-lừng.

Quân Nguyên chột dạ, lung-bung…

Nay ta kết-hợp, tập-trung Kinh-Thành.

Đồng thời tổng kích thật nhanh;

Triệt Hoan; lấy lại Kinh-Thành Thăng-Long.”

Vua nghe tinh ư… thuận ḷng;

Lệnh Trần-Quang-Khải; Thăng-Long thu hồi. (87)

Nhật-Duật, chặn giữ khắp nơi;

Không cho Đô tới; tái hồi Thoát-Hoan.

Thăng-Long, khi đó lan-tràn;

Quân Nguyên, do tướng Thoát-Hoan cầm đầu.

Đại-binh, tuần giữ canh thâu;

Chiến thuyền thời đậu; bến cầu Chương-Dương.

Từ trong Thanh-Hóa, đă lường;

Những điều trở-ngại; bất-thường chống đương.

Trần-Quang, Quốc-Toản (88)  t́m phương;

Dùng thuyền ra bến Chương-Dương ập vào;

Cùng Phạm-Ngũ-Lăo, (88)  ào-ào…

Tấn-công mănh-liệt; đánh vào quân Nguyên.

Tịch thâu tất cả tàu thuyền;

Địch thua tháo chạy; quân Nguyên lên bờ.

Trần-Quang(Khải) (88)  lợi-dụng thời-cơ;

Điều quân tốc-chiến; lên bờ đuổi theo.

Quân Nguyên gặp thế hiểm-nghèo;

Ào-ào tháo chạy; tranh leo vào Thành.

Báo cho Nguyên Tướng trực canh;

Rằng quân Đại-Việt; đến Thành Thăng-Long.

Quân Nguyên đồn-trú bên trong;

Hay quân Trần đến; xao-ḷng trốn nhanh.

------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(87) Sau khi nghe Hưng-Đạo-Vương tâu tŕnh; thừa cơ thắngtrận. Quân Ta nên phát động tổng tấn công Thoát-Hoan để lấy lại Kinh-Thành Thăng-Long. Vua Nhân-Tông đă thuận ư; lệnh cho Tướng Trần-Quang-Khải điều quân ra đánh Thoát-Hoan để tái chiếm Thăng-Long. Đồng thời sai Trần-Nhật-Duật chận mọi nẽo đường, không cho quân Toa-Đô kéo lên để kết hợp với Thoát-Hoan.      

(88) Trần-Quang-Khải và Trần-Quốc-Toản; phối hợp với Phạm-Ngũ-Lăo; điều quân từ Thanh-Hóa ra Bắc bằng đường biển, theo lệnh vua Trần-Nhân-Tông. Đă ập vào bến Chương-Dương, tổng tấn công các chiến thuyền của Thoát-Hoan đậu tại đây. QuânNguyên bị tấn công bất ngờ, bị thua, bỏ thuyền chạy lên bờ và tiến về Thành Thăng-Long trong cảnh hổn loạn. Khi hay tin quân Trần ào tới, quân Nguyên trong Thành hoảng sợ và một số đă chạy thoát-thân.

 

 

Một bầy kháng-cự cầm-canh;

Thoát-Hoan cố-gắng; trong Thành đánh ra. (89)

Nhưng gặp áp-lực “Quân Ta”.

Thoát-Hoan tháo chạy, rút ra Hồng-Hà.

Giữ mặt Kinh-Bắc(Bắc-Ninh) xa-xa;

Nhác trông Đại-Việt, hoan-ca tưng-bừng.

Trần-Quang(Khải) (90)  phấn-khởi khao mừng;

Tướng, binh vui thỏa; lẫy-lừng chiến-công!

V́ chưng quân, Tướng một ḷng;

Quyết tâm lấy lại; Thăng-Long Kinh-Thành.

Trần-Quang hứng-khởi “Thơ danh”; (90)

Trọn đời ghi nhớ công thành b́nh-an:

“Chương-Dương đoạt giáo giặc Hoan. (91)

Quân thù Hàm-Tử; Ta giam cả bầy.

Thái b́nh; quân, Tướng hăng say…

Ngh́n Thu, Non-Nước vui-vầy b́nh-sinh…!”

Ấy là lẽ sống; tâm-t́nh...

Khải sai người báo; vui tin thắng Tàu. (92)

Từ trong Thanh-Hóa; Vương, Hầu;

Ai-ai cũng thỏa; cùng nhau reo mừng.

Nhân-Tông di chuyển Triều-Cung;

Phụ-vương Thái-Thượng(Hoàng) về vùng Tràng-An. (93)

Toa-Đô, lâm cảnh gian-nan; (94)

Thua trận Hàm-Tử, lang-thang Thiên-Trường. (94)

Đô, Hoan; mỗi Tướng một phương;

Không hề hay biết; chiến trường Thăng-Long.

Hoan thua thảm-thiết, long-đong;

Tàn quân tháo chạy về ṿng Bắc-Ninh (Kinh-Bắc).

Phần Đô vẫn cứ đinh-ninh;

Tiến về Thiên-Mạc, (95) hiệp binh… Hoan chờ.

-----------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(89)- Khi Thoát-Hoan được tin quân Trần do Trần-Quang-Khải lănh đạo, đă tràn đến tổng tấn công tái chiếm Thành Thăng-Long. Hắn đă điều động một số quân Nguyên c̣n lại; từ trong Thành đánh ra. Nhưng đă thất bại. Thoát-Hoan cùng với một số tàn quân tháo chạy ra bên bờ sông Hồng-Hà; giữ tạm thời vùng Kinh-Bắc (thuộcBắc-Ninh); để chờ quân của Toa-Đô và Ô-Mă-Nhi từ bến Hàm-Tử (Hải-Dương) đến tiếp viện. Nhưng hắn không ngờ rằng Quân-Toa-Đô và Ô-Mă-Nhi đă bị Chiêu-Văn-Vương Trần-Nhật-Duật với Trần-Quốc-Toản và Nguyễn Khoái tiêu diệt trước đó. Đồng thời ngăn chặn; không cho quân c̣n lại của Toa-Đô liên lạc được với Thoát-Hoan.

(90)-  Sau khi tái chiến lại Kinh-Thành Thăng-Long, Tướng Trần-Quang-Khải đă cho mở tiệc khao quân đại thắng. Trong khi vui men chiến thắng; Ông đă ngẫu hứng ngâm lên bốn vần Thơ rằng:

“Đoạt sáo Chương-Dương-Độ (*)

Cầm Hồ Hàm-Tử-Quan

Thái-b́nh nhi nổ lực

Vạn cổ thử giang san.”

Bốn câu trên được dịch ra chữ Nôm (không rỏ Tác-giả) như sau:

“Chương-Dương cướp giáo giặc

Hàm-Tử bắt quân thù

Thái-b́nh nên gắng sức

Non Nước ấy ngh́n thu.”

(91)- Và Tác-Giả xin tạm dịch bốn câu Thơ (*) trên theo thể “Lục-Bát”; chữ nghiêng đậm như ở trên và dưới đây:

“Chương-Dương đoạt giáo giặc Hoan. (91)

Quân thù Hàm-Tử; Ta giam cả bầy.

Thái b́nh; quân, Tướng hăng say…

Ngh́n Thu, Non-Nước vui-vầy b́nh-sinh…!”

(92)- Trong lúc khao quân chiến thắng. Tướng Trần-Quang-Khải đă không quên sai người vào Thanh-Hoá; tŕnh cho Vua Nhân-Tông và Triều-Đ́nh; nhất là Tổng-Tư-Lệnh Trần-Hưng-Đạo biết rằng; quân Đại-Việt đă đại thắng quân Nguyên; Thoát-Hoan và đă tái chiếm Kinh-Thành Thăng-Long. Khiến Thoát-Hoan và tàn quân phải chạy trốn ra bờ sông Hồng-Hà và tạm dừng quân tại Kinh Bắc(Bắc-Ninh).

(93) Chỉ trong ṿng hai tháng, Quân Trần đă đại thắng quân Nguyên hai trận; tại Hàm-Tử và Chương-Dương, đồng thời tái chiếm lại Kinh-Thành Thăng-Long; khiến Toa-Đô và Thoát Hoan cùng quân Nguyên phải hoảng sợ tháo chạy. Quân sĩ Đại-Việt đă lên tinh-thần, nức ḷng trong tư thế sẵn sàng đánh giặc. Vua Nhân-Tông cũng cảm thấy yên ḷng; nên đă đưa Thái-Thượng-Hoàng Trần-Thánh-Tông và Triều-Đ́nh về Tràng-An (Việt Sử Toàn Thư ghi:Trường-Yên): Thuộc địa phận Ninh-B́nh.

(94)- Sau khi thua trận Hàm-Tử, Toa-Đô rút tàn quân về Thiên-Trường. Tiếp theo lại tiến về Thiên-Mạc (95) bằng đường thủy, để t́m cách phối hợp với Thoát-Hoan; v́ hắn nghĩ là Thoát-Hoan đang chờ đâu đó. Nhưng Đô đă không ngờ rằng; Thoát-Hoan đă thất bại ở Thăng-Long và rút tàn quân Nguyên về vùng Kinh-Bắc (Bắc-Ninh). Đến Thiên-Mạc, (95) Đô thấy nơi nào cũng có quân Trần trấn giữ; không cách nào tiến được, nên hắn phải đưa quân lùi về Tây-Kết. Nhưng không biết liên-lạc với Thoát-Hoan bằng cách nào…!?

 

Nhưng Đô, hắn đă không ngờ;

Thoát-Hoan thất trận, ngây-ngơ nhức đầu.

Toa-Đô, trong dạ buồn sầu;

Trở về Tây-Kết, t́m đâu bây giờ?

Hưng(Đạo)-Vương bố-trí quân-cơ; (96)

Sau hai trận thắng; bến bờ Hàm, Dương. (97)

Ngài tâu Chúa-Thượng Nhân-Vương;

Sai Trần(Nhật)-Duật, Khải; (98) chận đường Đô, Hoan.

Không cho bọn chúng hợp “Đoàn”…

Để Ngài tiến đánh Đô, Hoan đôi đường.

Nhân-Tông thuận ư Hưng(Đạo)-Vương; (99)

Tùy Ngài nghĩ cách; t́m phương diệt Tàu.

Hưng-Vương, (99) lệnh đánh thật mau;

Chận đường mọi ngă; Tóm đầu Toa-Đô.

Đô, Nhi; (100) thủy chiến không ngờ,

Bị Hưng(Đạo) (99) đánh bại, lên bờ thoát thân.

Giặc Nguyên, rút chạy rần-rần…

Bị Trần phục kích, tháo-thân khắp đàng.

Toa-Đô, th́ bị chận ngang;

Tại một dẫy núi, vong mạng v́ tên.

Ô (Mă)-Nhi, (100) vừa chạy vừa rên;

Lui vào Thánh-Hóa; lén lên chiếc thuyền.

Trở về Trung-Quốc b́nh yên;

Bỏ lại binh, tướng Mông-Nguyên tan hàng.

Quân Nguyên, bị bắt ba vàn(vạn). (101)

Đầu (Toa)Đô bị cắt, Hưng mang dâng Triều;

Nhân-Tông, tỏ ư thương yêu;

Phủ đầu Đô tướng, (102) nhiễu-điều áo Vua!

Ư Ngài, khuyên nhủ tôi Vua:

“Phải trung với “chúa”; được ưa tin dùng.”

------------------------------------------------------

GHI CHÚ:   

(96)- Phần Hưng-Đạo-Vương, sau hai trận đại thắng quân Toa-Đô tại bến Hàm-Tử và quân của Thoát-Hoan tại bến Hàm-Tử và Chương-Dương (97) Ngài đă nghĩ đến sách-lược bố-trí lực-lượng quân Trần; để tổng tấn công Quân Nguyên của Toa-Đô và Thoát-Hoan.      Nên Ngài đă đề nghị Vua Nhân-Tông sai Trần-Nhật-Duật và Trần-Quang-Khải (98) t́m cách chận đường Toa-Đô và Thoát-Hoan; không cho bọn chúng liên-lạc được với nhau. Để Ngài tiêu diệt Toa-Đô trước. Dồn mọi nổ lực để bắt cho được chủ Tướng (Toa-Đô). Sau đó tiến đánh Thoát-Hoan.     

(99)- Hưng-Đạo-Vương. 

(100)- Toa-Đô và Ô-Mă-Nhi.     

(101)- Ba vàn: Ba vạn (Việt Sử Toàn Thư ghi năm vạn). 

(102)- Khi Hưng-Đạo-Vương sai người đem đầu Toa-Đô về dâng cho Vua Nhân-Tông. Ngài đă cảm nhận tinh thần dũng liệt và trung thành của một vị Tướng đối với Chúa Thượng và Đất Nước. Nên Ngài đă lấy áo ngự bào của ḿnh phủ lên đầu Toa-Đô và nói rằng: “Làm bầy tôi, phải nên như người này!”

 

“Toa-Đô, (102) là kẻ tín trung;

Cần được mai táng; anh hùng xả thân.

Hỡi hàng Tướng, sĩ quân Trần;

Hăy noi danh tiết; sĩ-nhân người này…!”

Hưng-Vương, dạ thỏa hăng-say;

Khao quân chiến thắng, tỏ bày thưởng công.

Đồng thời cương-quyết một ḷng;

Xua Hoan cút khỏi; quanh ṿng Bắc-Giang.

Ngài sai (Nguyễn)Khoái, (P.Ngũ)Lăo; (103)  chặn đàng,

Hai bên Vạn-Kiếp; sẵn-sàng tấn-công.

Lại sai Nghiễn, Úy: (104)  con Ông;

Đem quân ba vạn; chận ṿng Quảng-Yên.

Không cho Hoan trốn tự nhiên;

T́m đường tẩu thoát; về miền Tư-Minh(của Tàu).

Phần Hưng(Đạo), (105)  chuẩn bị quân t́nh;

Điều quân tiến đánh; địa h́nh Bắc-Giang.

Thoát-Hoan, thua chạy khắp đàng;

Tụ về Vạn-Kiếp; hoang-mang tinh-thần.

Tại đây: Khoái, Lăo (103) cầm chân;

Tủa ra tới-tấp; rần-rần tấn-công.

Thoát-Hoan thua chạy ḷng-ṿng;

Lư-Hằng bị giết; (106) ở trong trận này.

Quân Nguyên, tháo-chạy xa bay; (107)

Thoát-Hoan, Phàn-Tiếp; cả bầy rút lui. (107)

Lại thêm A (Bát)-Xích, cùng lùi;

Kéo theo Lư-Quán, Hoan chui “ống đồng”. (107)

Trên đường tháo-chạy long-đong;

Gặp ngay Nghiễn, Úy vây ṿng đánh thêm.

Thoát-Hoan hoảng-hốt, rĩ-rên (rên-rĩ);

Cho dù đă đến; bên thềm Tư-Minh.

----------------------------------------------

GHI CHÚ:

(102)- Khi Hưng-Đạo-Vương sai người đem đầu Toa-Đô về dâng cho Vua Nhân-Tông. Ngài đă cảm nhận tinh thần dũng liệt và trung thành của một vị Tướng đối với Chúa Thượng và Đất Nước. Nên Ngài đă lấy áo ngự bào của ḿnh phủ lên đầu Toa-Đô và nói rằng: “Làm bầy tôi, phải nên như người này!”

(103)- “Khoái, Lăo”: Nguyễn-Khoái và Phạm-Ngũ-Lăo.     

(104)- “Nghiễn, Úy”: Tức là Hưng-Vơ-Vương-Nghiễn và Hưng-Hiếu-Vương-Úy ; là hai con trai của Trần-Hưng-Đạo. Được lệnh đem 3 vạn quân đến Quăng-Yên để chận đường rút lui của Thoát-Hoan và đồng bọn; về châu Tư-Minh của Tàu.  

(105)- Phần Hưng-Đạo-Vương th́ dẫn đại quân tiến đánh quân Nguyên; do Thoát-Hoan lănh đạo, đang đồn trú tại Bắc-Giang. Thoát-Hoan bị thua và dẫn đại quân Nguyên về Vạn-Kiếp trong cảnh hổn-loạn và hoang-mang tinh-thần. Đến Vạn-Kiếp, quân Thoát-Hoan lại gặp quân Trần do Nguyễn-Khoái và Phạm-Ngũ-Lăo chỉ-huy, phục binh và vây đánh tới-tấp.   

(106)- Quân Thoát-Hoan bị tổn hại nặng; mười phần mất hết năm. Thoát-Hoan t́m đường tháo chạy và Lư-Hằng (106) đă bị giết trong trận Vạn-Kiếp này. 

(107)- Sau khi Lư-Hằng bị giết tại Vạn-Kiếp,  toàn bộ quân, tướng Mông-Nguyên đều t́m đường tháo chạy. Thoát-Hoan, Phàn-Tiếp, A-Bát-Xích, Lư-Quán… đều t́m cách rút lui. Riêng Thoát-Hoan th́ chui vào “ống đồng”, sai người cho lên xe trốn chạy về Tàu. Nhưng khi tới gần địa hạt Tư-Minh; th́ bị hai Tướng Vương-Nghiễn và Vương-Úy (con của Trần-Hưng-Đạo) phục-kích, bao vây tấn-công.  

 

Quân Trần, làm chủ t́nh-h́nh;

Giết thêm Lư-Quán; (108) “Việt-binh” triệt thù.

Hưng(Đạo)-Vương, Danh-Sử ngàn Thu; (109)

Điều binh, đại thắng giặc thù Nguyên-Mông!

Cũng nhờ “Nghị-Quyết Diên-Hồng”;

Toàn dân đoàn-kết, một ḷng cùng Vua.

Đánh cho “Nguyên-Tặc” te-tua;

Diệt năm chục vạn; Mông thua nhớ đời!

Nhân-Tông, Triều-Đại sáng ngời;

Toàn dân ghi nhớ công Người ngàn năm!

Hưng-Vương, danh Tướng tiếng-tăm;

Sau ngày đại thắng, Ông thăm Triều-Đ́nh. (110)

Ngài mời Chúa-Thượng về Kinh;

Phục-hồi nền-nếp; Cung-Đ́nh Thăng-Long.

Nhân-Tông, Thái-Thượng(Hoàng), hài ḷng;

Trường-An bỏ lại, Thăng-Long tái-hồi.

Trần-Triều, hoan-hỷ Vua, tôi;

Cùng nhau góp sức, phục-hồi Giang-San!

Xứng danh, “Dân-Tộc Việt-Nam”;

Con Hồng, cháu Lạc; rỡ-ràng ngàn xưa!

Tướng, Hoan bại trận, te-tua; (111)

Vua Cha căm-giận; tính đưa chém đầu. (111)

Quần-Thần, năn-nỉ canh thâu;

Bọn Hoan thoát nạn, buồn-sầu hổ-ngươi!

Nguyên thua hai trận, nhớ đời; (112)

Vua Nguyên thù-hận; quyết bồi lần ba. (112)

Ngừng việc đánh Nhật, ở xa;

Tập-trung binh-lực; lấy nhà Việt-Nam.

Mông-Nguyên, thổ-phỉ ngang-tàng;

Ngàn đời vẫn thói; nhỡ-nham yêu-tà…!

---------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(108)-  Quân-Nguyên hoảng-hốt tháo chạy. Riêng Lư-Quán bị tên bắn chết tại trận. C̣n Thoát-Hoan, A-Bát-Xích và Phàn-Tiếp; chạy thoát được về Tàu. Sau khi giết thêm được Lư-Quán, và bọn Thoát-Hoan đă trốn về Tàu; Quân của Đại-Việt đă toàn thắng và hoàn-toàn làm chủ t́nh-h́nh. Tru-diệt toàn bộ kẻ thù giặc Nguyên.

(109)- Hưng-Đạo-Vương Trần-Quốc-Tuấn, là một “đại danh Tướng”; với ḷng can-đảm, kiên-quyết và trung-liệt; đă điều quân Đại-Việt, đánh bại 50 vạn quân Mông-Nguyên. Tái chiếm lại Kinh-Đô Thăng-Long dưới thời vua Trần-Nhân-Tông. Là một Triều-Đại sáng ngời; với “Hội-Nghị Diên-Hồng”: Toàn dân, toàn quân, đoàn kết một ḷng với Vua, đánh đuổi quân xâm-lăng; dưới quyền lănh-đạo tài ba của Tổng Tư-Lệnh Hưng-Đạo-Vương. Ông xứng đáng được ghi vào Danh Sử ngàn Thu của Việt-Nam; cùng với vị Vua đầy ḷng nhân-ái; thương dân, yêu Nước Trần-Nhân-Tông!

(110)- Sau khi tái chiếm lại Kinh-Đô Thăng-Long, Hưng-Đạo-Vương đưa quân về Tràng-An, Ninh-B́nh; để thăm lại vua Nhân-Tông, Thái-Thượng-Hoàng Thánh-Tông và Triều-Đ́nh. Đồng thời mời Vua cùng với Thái-Thượng-Hoàng và Triều-Đ́nh trở về Thăng-Long. Vua Nhân-Tông và Thái-Thượng-Hoàng đă rất hài ḷng và đồng ư dời Kinh thành (thứ 2) Tràng-An trở về Kinh-Đô, để chấn-chính lại Triều-Cương và phục-hồi Giang-San. Thật Xứng danh “Con Hồng, cháu Lạc của Dân Tộc Việt-Nam”.  

(111)- Phần Thoát-Hoan và các Tướng-Lănh của hắn; sau khi bại trận trở về; vua Cha Hốt-Tất-Liệt rất căm giận, tính đem chém đầu tất cả. Nhưng nhờ các quần thần Triều-Đ́nh can gián; Vua Nguyên nguôi giận và tha cho. 

(112)- Sau hai lần đại bại trước sức kháng cự mănh-liệt của quân Đại-Việt. Hốt-Tất-Liệt rất tức giận; định tâm chuẩn-bị quân-t́nh đế sang đánh chiếm Đại-Việt lần thứ ba để báo thù. Nên hắn đă tạm đ́nh chỉ việc đánh chiếm Nhật-Bản. Đồng thời, Hắn cho tuyển thêm quân lính, sắm thêm giáo gươm, chiến mă và đóng thêm 300 chiến thuyền; tính sang đánh chiếm Đại-Việt ngay, chẳng khác nào bọn thổ-phỉ ăn cướp như yêu tà. 

 

Hoài tâm, tính chiếm Nước Ta;

Tuyển thêm người, ngựa, đóng ba trăm thuyền.

Hồ-Nam; Kha tướng (113) nhủ khuyên:

“Nguyên-Mông vừa bại, dưỡng yên tạm thời.

Để cho quân, tướng nghỉ-ngơi;

Khi nao hồi sức; liệu thời xuất chinh.” (113)

Vua Nguyên nghe nói… lặng im;

Tạm dừng tốc-chiến, xua binh báo thù.

C̣n Trần-Ích-Tắc (114) dại ngu;

Theo Hoan phản Chúa, như tù nhục thân!

Hắn là hoàng-tộc nhà Trần;

Và là thúc-phụ, Vua Trần-Nhân-Tông.

Tắc v́, bản tính qúa ngông;

Muốn giành “Ngôi Báu” Nhân-Tông đương thời.

Theo Hoan, tưởng được “Cơ-Ngơi”;

Nào ngờ thất-bại, cuộc đời như trâu!

Vua Nguyên, đưa đến Ngạc-Châu;

Xa mù Hồ-Bắc, gục đầu lệ nô!

Chờ thời cướp lại “Cơ Đồ”;

Do Nguyên hứa giúp, thân nô tội-t́nh!

Nhân-Tông, theo-dơi biết tin; (115)

Mông-Nguyên sửa-soạn xua binh đánh ḿnh.

Ngài liền tham-khảo Triều-Đ́nh;

Hỏi Trần-Hưng-Đạo: “Chiến-t́nh tính sao?” (116)

“Quân Trần, đối-phó cách nào;

V́ chưng Nguyên địch, lớn-lao hơn nhiều!?”

Hưng-Vương, khiêm-tốn không kiêu: (116)

“Bẩm tâu Chúa-Thượng: Giặc nhiều không sao.”

“Năm qua, Nguyên tặc ào-ào;

Ùa sang năm chục(vạn), chúng nào thắng ta…!?”

-------------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(113)- Nhưng v́ có một tên  tướng Nguyên ở Hồ-Nam là Tuyến-Kha (113) can gián, khuyên Hốt-Tất-Liệt hăy b́nh-tĩnh; chờ cho Thoát-Hoan và các Tướng-Lănh và binh-sĩ vừa bại trận ,dưỡng sức ít lâu; khi hồi-phục sức khoẻ và tinh-thần… hăy xuất chinh.  

(114)- Trần-Ích-Tắc là con thứ vua Trần-Thái-Tông. Em vua Trần-Thánh-Tông và là chú vua Trần-Nhân-Tông. Trước khi quân Nguyên do Toa-Đô chỉ-huy từ trong Chiêm-Thành kéo ra đánh Nghệ-An. Trần-Ích-Tắc và Trần-Tú-Viên đă phản lại vua Trần-Nhân-Tông và Triều-Đ́nh; ra đầu hàng Thoát-Hoan. Khi đó chỉ có Trần-Hưng-Đạo phụng xa-giá, lẫn tránh địch; đồng thời điều toàn quân phản công địch… Khiến Thoát-Hoan đại bại phải chui vào ống đồng để trốn về Tàu. Ích-Tắc cũng chạy theo. Sau được vua Nguyên cho vể ở Ngạc-Châu, một tỉnh lỵ nhỏ bé thuộc Tỉnh Hồ-Bắc khi đó. Mục đích lợi dụng thời cơ để được bọn giặc Mông-Nguyên tôn lên làm Vua; rồi dẫn về Nước Việt sau này. Nhưng ư đồ của Tắc và bọn giặc Nguyên đă không thực-hiện được.   

(115)- Khi Vua Nhân-Tông nhận được tin t́nh báo: Sau hai lần đại bại (Lần thứ nhất vào năm Đinh-Tỵ (1257), tại Thăng-Long, Đại-Bộ-Đầu, Quy-Hỏa… phải trốn thoát về Vân-Nam. Lần thứ haị; vào năm Ất-Dậu(1285); Thoát-Hoan bị Trần-Quang-Khải đánh bật khỏi Thăng-Long, phải trốn về Bắc-Giang. C̣n Toa-Độ bại trận tại Tây-Kết và bị tên bắn chết. Sau đó, Thoát-Hoan lại bị Hưng-Đạo-Vương tiến đánh bật khỏi  Bắc-Giang, thua chạy về Vạn-Kiếp và bị quân của hai Tướng Nguyễn-Khoái và Phạm-Ngũ-Lăo phục binh đánh bại tại Vạn-Kiếp, Lư-Hằng bị giết. c̣n Thoát-Hoan, A-Bát-Xích, Phàn-Tiếp và Lư-Quán, tháo chạy về Tàu. Nhưng khi về gần đến châu Tư-Minh lại bị hai con của Trần-Hưng-Đạo là Vương-Nghiễn và Vương-Úy; chận đường đánh cho tơi tả, Lư-Quán bị giết, c̣n Thoát-Hoan, A-Bát-Xích, Phàn Tiếp trốn thoát về Tàu.

Bởi thế, vua Nguyên là Hốt-Tất-Liệt rất căm giận. Hắn đă cho tuyển dụng thêm quân, sắm thêm chiến mă và gươm giáo; đồng thời cho đóng thêm 300 chiến thuyền, t́m cách báo thù Đại-Việt lần thứ ba.

(116)- Khi nghe được như vậy, vua Nhân-Tông cảm thấy lo ngại trước đại quân của Nhà Nguyên. Nên Ngài đă tham-khảo ư kiến Triều-Đ́nh; đặc biệt Ngài cho mời Trần-Hưng-Đạo đến để hỏi ư kiến xem: “ Phải dùng kế ǵ để chống lại được quân Nguyên?” Và Trần-Hưng-Đạo đă khiêm-tốn (116) trả lời:

 

“Bẩm tâu Chúa-Thượng: Giặc nhiều không sao.”

“Năm qua, Nguyên tặc ào-ào;

Ùa sang năm chục(vạn), chúng nào thắng ta…!?”

 

“Chỉ v́, “Xă-Tắc Sơn-Hà”;

Tổ-Tiên réo-gọi; quân ta hết t́nh.

Không sợ nguy-hiểm đao, binh;

Sẵn-sàng chiến-đấu; dốc t́nh diệt Nguyên.

Năm rồi, (1285) giết giữa trận-tiền;

Toa-Đô, Lư-Quán, thêm tên Lư-Hằng.

Nghĩ rằng; chúng chẳng c̣n hăng;

Dốc tâm chiến đấu, như năm vừa rồi.

Bẩm Ngài, theo ư Thần tôi;

Quân Trần sẽ thắng, phục hồi “Danh Nam…!”

Nhân-Tông, nghe tỏ mọi đàng;

Lệnh  cho Hưng-Đạo (117) sửa-sang quân-t́nh.

Ưu-tiên tuyển-mộ thêm binh;

Sắm thêm khí-giới, luyện binh, ngựa thuần.

Sẵn-sàng thuyền, mă, đại quân;

Kháng Nguyên, rồi sẽ rần-rần tiến sang.

Mùa Xuân Đinh-Hợi (1287) Thoát-Hoan; (118)

Làm Đại-Nguyên-Soái, dẫn sang Nước ḿnh.

Hơn năm chục (50) vạn quân-binh;

Bao gồm thủy, lục; tinh-binh dưới cờ.

Tướng-quân phụ-lực quân-cơ;

Là hai tướng Xích, (119) Tả-Thừa, B́nh-Chương.

Mă-Nhi, Phàn-Tiếp, (120) cùng phường;

Tham-tri Chính-sự; tương-đương quyền-hành.

Một bầy “Nguyên Tướng” lưu-manh;

Xua quân; tính đánh tanh-bành Việt-Nam.

Thoát-Hoan dụng kế (121) phũ-phàng;

Phong Trần-Ích-Tắc; (121)  Vương-Nam chư-hầu.

Đưa về Đại-Việt, làm cầu;

Tiến sang đánh chiếm; phủ đầu An-Nam.

-----------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(117)- “Lệnh cho Hưng-Đạo”: Sau khi nghe Trần-Hưng-Đạo trả lời, vua Nhân-Tông cảm thấy yên ḷng; đồng thời  ra lệnh (117)  cho Ngài toàn quyền lo việc điều binh, khiển Tướng. Sắp xếp việc quân-cơ. Tuyển mộ thêm lính, sắm thêm binh-khí và chiến thuyền. Huấn-luyện binh mă… để sẵn-sàng đại quân… hầu có thể kháng-cự lại quân xâm-lược của Mông-Nguyên, do Thoát-Hoan lănh đạo. 

(118)- “Mùa Xuân Đinh-Hợi Thoát-Hoan”: Và đến tháng hai mùa Xuân năm Đinh-Hợi (1287), Thoát-Hoan được Hốt-Tất-Liệt phong làm Đại-Nguyên-Súy, điều 50 vạn quân sang đánh Việt-Nam; được sắp xếp để hổ-trợ dưới sự chỉ-huy của các Tướng A-Bát-Xích, (119) làm Hành-Tỉnh Tả-thừa. Áo-Lỗ-Xích (119) làm B́nh-Chương Chính-Sự. Ô-Mă-Nhi và Phàn-Tiếp; (120) làm Tham-Tri Chính-sự.

Đạo quân của Thoát-Hoan đa phần là quân Mông-Cổ, và quân Nhà Hán; tuyển từ Bắc-bộ Trung-Quốc; sau khi diệt được nước Kim. Ngoài ra c̣n một số quân tuyển ở Vân-Nam, Giang-Tây, Giang-Hoài, Hồ-Quảng. Số c̣n lại rành về thủy chiến th́ tuyển ở các vùng Nhai, Quỳnh, Đạm, Vạn ở Quảng-Đông… gồm có thêm 1 vạn 5 ngàn người. Lực-lượng của Thoát-Hoan thật hùng-hậu.

(121)- “Thoát-Hoan dụng kế phủ-phàng”: Đến ngày 03-09-1287(Đinh-Hợi), Đạo quân của Thoát-Hoan bắt đầu xuất-chinh; Thoát-Hoan mượn cớ đưa Trần-Ích-Tắc (121) về Đại-Việt, để phong làm An-Nam Quốc-Vương. Và là một Nuớc chư-hầu của Nhà Nguyên. Mục đích chính là sang đánh chiếm Đại-Việt của ta.

 

Sau khi chuẩn-bị sẵn-sàng;

Thoát-Hoan xuất chiến; (122) với hàng hùng binh.

Đại quân đến ải Tư-Minh; (122)

Chia làm nhiều ngă; xua binh tiến vào.

Trịnh(bằng)-Phi, Áo(Lỗ)-Xích ào-ào;

Bộ binh hai vạn, tiến vào Việt-Nam.

Ô(Mă)-Nhi, Phàn-Tiếp lộ giang;

Bảy trăm thuyền-chiến; vài vàn(vạn) thủy-binh.

Thạch-lương, Trương(Văn)-Hổ lo rinh;

Hơn bảy-mươi vạn… cấp binh tiêu-dùng.

Nhân-Tông, trước thế Nguyên hùng; (123)

Lệnh Trần-Hưng-Đạo, khoanh vùng phản Nguyên. (123)

Hưng-Vương bố-trí trận tiền;

Trần(Nhật)-Duật, Nguyễn-Khoái; canh miền Lạng-Sơn.

Lê(Phụ)-Trần, (Trần)Quốc-Toản lực dồn;

Dẫn quân ba vạn; lũy-đồn Nghệ-An.

Để canh mặt biển vẹn-toàn;

Ngài sai Trần-Khánh(-Dư) chận ngang Vân-Đồn.

Phần Ngài, toàn thể lực dồn;

Phú-Sơn, Vạn-Kiếp; lũy-đồn Quảng-Yên.

Để trọn chiến-thuật trận-tiền;

Ngài sai quân chận, (124) biên miền Việt-Hoa.

Ba đồn pḥng-ngự quân ta;

Gồm: Sa, Từ, Trúc; (124) đối là Châu(Tư)-Minh.

Hưng-Vương, lượng trước t́nh-h́nh;

Đại-binh Hoan nhập Nước ḿnh nơi đây.

Ngài cho quân chắn vùng này;

Chận đường tiến tới; Nguyên bầy xâm-lăng.

Ngoài ra, bến cửa Đại-Than; (125)

Việt-Nam quân, Tướng; vài ngàn thủy-binh. (125)

---------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(122)- Sau khi đă chuẩn-bị xong binh, mă và 700 chiến-thuyền mới đóng cộng thêm 120 chiếc của Hải-Nam; Thoát-Hoan đă lùa hơn 50 vạn quân sang đánh chiếm Đại-Việt của ta. Đại quân xuất phát từ Khâm-Châu, Liêm-Châu đến châu Tư-Minh, giáp ranh với Tỉnh Lạng-Sơn của Đại-Việt. Tại đây, Thoát-Hoan chia làm 3 cánh:  

1. Cánh thứ nhất, xâm nhập từ Vân-Nam qua ngă sông Thao và sông Lô do Aruq(A Lư-Hải-Nha) chỉ -huy (không rỏ quân số).   

2. Cánh thứ hai, là quân chủ lực do Thoát-Hoan lănh-đạo cùng với Trịnh-Bằng-Phi (3 vạn), Áo-Lỗ-Xích (3 vạn); dẫn theo Trần-Ích-Tắc vào ngă đông Bắc (Lộc-Châu). Đến Lộc-Châu, Thoát-Hoan sai Trịnh-Bằng-Phi và La-Đáp-Nhi đi vào Aỉ Chi-Lăng rồi kéo xuống. C̣n Thoát-Hoan và đại quân tràn vào Ải Khả-Lợi; tiếp theo sau đạo quân tiên-phong của A-Bát-Xích.    

3. Cánh thứ 3, do Ô-Mă-Nhi và Phàn-Tiếp chỉ huy 500 chiến-thuyền đưa thủy-quân theo đường biển từ Khâm-Châu để xâm nhập Nước ta vào hai cửa biển là Vạn-Ninh, Móng-Cái (Nay là Quảng-Ninh) và Bến Vân-Đồn và Cửa Lục. Cùng với đoàn thuyền do Trương-Bạch-Hổ chỉ-huy; chở theo 70 vạn thạch-lương, tháp tùng theo sau để cung cấp lương-thực cho đoàn quân viễn-chinh Mông-Nguyên.   

(123)- “Nhân-Tông, trước thế Nguyên hùng;”: Đứng trước 50 vạn đại quân hùng-hậu của Mông-Nguyên do Thoát-Hoan lănh-đạo; Vua Trần-Nhân-Tông cảm thấy e-ngại; Ngài lệnh cho Trần-Hưng-Đạo phân chia các vùng chiến-thuật; để canh-pḥng và chống lại quân Nguyên. Thừa lệnh Vua, Trần-Hưng-Đạo đă cắt đặt các Tướng Lănh chịu trách nhiệm canh giữ các vùng như sau: Trần-Nhật-Duật và Nguyễn-Khoái; chỉ-huy 3 vạn quân, chống giữ miền Lạng-Sơn. Lê-Phụ-Trần và Trần-Quốc-Toản, chỉ-huy 3 vạn; vào giữ Nghệ-An. Trần-Khánh-Dư, chỉ huy thủy-quân ở mặt Vân-Đồn. C̣n Trần-Hưng-Đạo và đại quân do Ngài chỉ-huy th́ dồn về đóng ở trên đỉnh Phú-Sơn và Vạn-Kiếp, Quảng-Yên. Là Trung-Tâm Quân-Lực để tiện việc điều quân tiếp ứng cho các nơi, v́ thuận tiện giao thông đường thủy và đường bộ. 

(124)- “Ngài sai quân chận, (124) biên miền Việt-Hoa.”: Tại vùng biên-giới Việt, Hoa; đối diện với châu Tư-Minh của Tàu. Hưng-Đạo-Vương bố trí quân tại ba địa điểm là: Sa, Từ, Trúc; để chặn đường tiến quân của Thoát-Hoan.

(125)- “Ngoài ra, bến cửa (125)Đại-Than;”: Tại Sông Đại-Than thuộc Hải-Dương. (Nay là huyện Nghi-Dương, tỉnh Kiến-An). Hưng-Đạo-Vương cũng bố trí vài ngàn thủy-binh để chống lại quân Mông Nguyên.

 

 

Ngày đầu, Nguyên tới Vạn-Ninh; (126)

Trần-Đa mai-phục, đánh ch́m thuyền lương. (126)

Ô(Mă)-Nhi vây bủa chống đương;

Trần-Đa lực yếu, t́m đường rút lui.

Ô(Mă)-Nhi thắng thế đẩy lùi;

Quân Trần t́m cách tháo lui ven gành.

Ô(Mă)-Nhi, truy-đuổi thật nhanh; (127)

Quên thuyền lương-thực, nghẽn đành theo sau. (127)

Đại quân Hoan đến Lộc-Châu; (128)

Chí-Linh, Phả-Lại; đụng đầu quân ta. (128)

Quân Trần lực yếu, (129) dần-dà;

Lui về Vạn-Kiếp, (129) để mà chống đương.

Trịnh(Bằng)-Phi, Nguyên tướng t́m phương;

Tiến về Vạn-Kiếp, chận đường quân ta.

Xích, Nhi; tiến xuống Hồng-Hà, (130)

Mục-tiêu Nguyên chiếm; chính là Thăng-Long.

Hưng-Vương thấy giặc qúa đông; 131)

Ngài lui về giữ Thăng-Long Kinh-Thành. (131)

Sai người tín-cẩn thật nhanh;

Dẫn đường “Xa-Giá” thoát Thành Thăng-Long.

Thượng-Hoàng cùng với Nhân-Tông,

Lên xe thẳng tới; chốt pḥng Hà-Nam.

Ô(Mă)-Nhi  truy-đuổi chận đàng; (132)

Triều-Đ́nh rời bỏ Hà-Nam xuống thuyền.

Trở vào Thanh-Hóa tạm yên;

Ô(Mă)-Nhi (132) không kịp; về miền Long-Hưng (Thái-B́nh).

Sai người khai-quật tử-cung; (133)

Thiên-Lăng(133) Tiên Tổ, Triều-cung nhà Trần.

Giặc Nguyên đập nát ầm-ầm;

Mộ bia Hoàng-Tộc Nhà Trần tan-hoang!

----------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(126)- “Ngày đầu, Nguyên tới Vạn-Ninh;”: Trận đầu tiên xẩy ra vào ngày 11-01-1288; khi Ô-Mă-Nhi đưa thủy quân Nguyên đến Vạn-Ninh (thuộc Móng-Cái). Gặp tướng Nhân-Đức-Hầu Trần-Đa (Có sách chép là Trần-Gia) ở Lạng-Sơn gần đó mai phục vây đánh; để chận đường tiến của Thủy quân và thuyền chở lương-thực, vũ-khí của quân Nguyên do Trương-Văn-Hổ vận-chuyển. Trần-Đa tuy đánh đắm được vài thuyền lương của địch. Nhưng v́ lực yếu; Trần-Đa phải rút lui để bảo-toàn lực-lượng.

(127)- “Ô(Mă)-Nhi, truy-đuổi thật nhanh;” Về phần quân Nguyên, v́ Ô-Mă-Nhi ham truy đuổi chiến thuyền của Trần-Đa (Đại-Việt), nên đoàn thuyền chở lương thực và vũ khí của Nguyên bị tắc nghẽn (127)  lại ở phía sau, không theo kịp. Nên về sau bị thiếu lương thực…

(128)- “Đại quân Hoan đến Lộc-Châu;”: C̣n đoàn lục quân của Mông-Nguyên khi tới Lộc Châu, đă đụng đầu với quân Đại-Việt và Thoát-Hoan đă đánh chiếm núi Phả-Lại và Chí-Linh. 

(129)- “Quân Trần lực yếu,”: V́ Quân Đại-Việt lực yếu, nên phải lui dần về Vạn-Kiếp để cố thủ. Trong khi đó, quân của Trịnh-Bằng-Phi ở Chi-Lăng kéo xuống chận đường; không cho quân Đại-Việt về Vạn-Kiếp.  

(130)- “Xích, Nhi; tiến xuống Hồng-Hà,”: Mặt khác, Thoát-Hoan lại sai thủy quân Nguyên do A-Bát-Xích và Ô-Mă-Nhi chỉ-huy; từ sông Lục-Đầu đánh tràn xuống sông Hồng-Hà; với mục-đích đánh chiếm Kinh-Thành Thăng-Long.

(131)- “Hưng-Vương thấy giặc qúa đông;”: Trước t́nh thế đó, Hưng-Đạo-Vương kéo quân về giữ Thành Thăng-Long. Đồng thời sai người tín-cẩn dẫn “Xa-Giá” vua Nhân-Tông và Thái-Thượng-Hoàng lánh về Hà-Nam. Nhưng bị Ô-Mă-Nhi truy đuổi kịch-liệt, nên Vua và Triều-Đ́nh lại bỏ Hà-Nam, xuống thuyền vào Thanh-Hóa để tạm lánh.

(132)- “Ô(Mă)-Nhi  truy-đuổi chận đàng;” V́ không đuổi kịp Nhân-Tông và Triều-Đ́nh, Ô-Mă-Nhi cho quân quay đầu trở lại và về miền Long-Hưng (Thái-B́nh), rồi cho đập nát hết các mộ bia Hoàng-Tộc Nhà Trần để trả thù và khai quật các Thiên-Lăng (133) (Chiêu-Lăng hay Lăng-Tẫm) của các Tiên Đế nhà Trần, lấy  tử-cung”(quan tài) (133) lên, nhưng để đó không đập phá.

 

C̣n Hoan lui đến Bắc-Giang; (134)

Hải-Dương: Vạn-Kiếp, huyện làng Phả-Linh. (134)

Nơi đây, Hoan triệu-hồi binh;

V́ không chiếm được Cung-Đ́nh Thăng-Long.

Hưng(Đạo)-Vương, khẩn báo Nhân-Tông: (135)

“Thoát-Hoan thất-bại tấn-công Kinh-Thành. (135)

Giặc Nguyên bị đánh tanh-banh;

Lùa nhau tháo chạy; khỏi Thành Thăng-Long.

Xin Ngài vững chí, an ḷng;

Trở về Cung-Điện Thăng-Long tức thời.”

Nhân-Tông nghe báo đôi lời;

Cùng Hoàng-Thái-Thượng; tái hồi Thăng-Long.

Phần Hưng (Đạo) chuẩn-bị tiến-công; (136)

Thu quân lập trại, canh-pḥng Thoát-Hoan. (136)

Mông-Nguyên Vạn-Kiếp lâm nàn; (137)

Quân-lương đă cạn, Thoát-Hoan điên đầu! (137)

Thuyền lương Trương(Văn)-Hổ nơi đâu…?

Lệnh Nhi cấp-tốc, t́m tàu quân-lương.

Ô(Mă)-Nhi tới-tấp t́m đường;

Thủy-quân ra cửa hướng dương Đại-Bàng.

Nhưng Nhi gặp phải gian-nan; (138)

Đụng quân Đại-Việt, khi ngang Vân-Đồn. (138)

Ô(Mă)-Nhi cố-gắng lực dồn;

Đẩy lui Đại-Việt, lũy-đồn Trần(Khánh)-Dư.

Hắn không một chút chần-chừ;

Thẳng đường ra biển, chực-chờ thuyền lương.

Hay tin Trần-Khánh(Dư) thất đương; (139)

Nhân-Tông nổi giận; vời Vương về triều. (139)

Khánh-Dư biết tội, nhưng liều;

Xin cùng đặc Sứ đôi điều: “Hăy khoan”: (139)

---------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(134)- “C̣n Hoan lui đến Bắc-Giang;”: Về phần Thoát-Hoan, sau cuộc tấn công vô-hiệu vào Cung-Đ́nh Thăng-Long, hắn đă cho binh lui về trấn giữa các căn-cứ ở Bắc-Giang. Cũng như Vạn-Kiếp và Phả-Lại, Chí-Linh ở Hải-Dương.

(135)- “Hưng(Đạo)-Vương, khẩn báo Nhân-Tông.”: Sau khi đại quân của Thoát-Hoan rút lui khỏi Thăng-Long. Hưng-Đạo-Vương sai người vào Thanh-Hóa báo tin cho Vua Nhân-Tông và Thượng-Hoàng biết và các Ngài lập-tức hồi Kinh.

(136)- “Phần Hưng (Đạo) chuẩn-bị tiến-công;”: Phần Hưng-Đạo-Vương, thu quân đến lập doanh-trại ở gần Vạn-Kiếp; chuẩn-bị đối đầu với quân Nguyên.

(137)- “Mông-Nguyên Vạn-Kiếp lâm nàn;”: V́ quân Thoát-Hoan ở Vạn-Kiếp đă gần cạn lương-thực. Hắn điên đầu, sai Ô-Mă-Nhi đem thủy-quân ra cửa Đại-Bàng hướng đông mặt trời mọc, để đón thuyền lương của Trương-văn-Hổ.

(138)- “Nhưng Nhi gặp phải gian-nan;”: Nhưng Ô-Mă-Nhi đă gặp trở-ngại; đụng đầu với quân Đại-Việt do Nhân-Huệ Vương Trần-Khánh-Dư chỉ huy tại Vân-Đồn chận đánh. Mă-Nhi dốc toàn lực để tấn công… Trần-Khánh-Dư thất-thế phải lui quân. Mặc cho Mă-Nhi thẳng đường ra biển để đón thuyền lương và vũ-khi do Trương-Văn-Hổ chuyển tải.

(139)- “Hay tin Trần-Khánh(Dư) thất đương;”: Khi hay tin Nhân-Hầu Vương Trần-Khánh-Dư thất bại tại Vân-Đồn, vua Nhân-Tông sai Sứ vời Ông về để trị tội. Nhưng Khánh-Dư thưa với Sứ-Thần rằng: (139) “Xin hăy khoan cho Tôi thêm thời gian để lập công chuộc lỗi. Tôi hứa sẽ đánh tan đoàn thuyền lương của bọn Mông-Nguyên, do Trương-Văn-Hổ chuyên chở.” Và Sứ-Thần đă chuẩn thuận theo lời yêu cầu của Khánh-Dư.

 

“Để tôi có gắng minh oan;

Lập công chuộc lỗi; bắt toàn thuyền lương.”

Ô(Mă)-Nhi thắng thế không lường;

Gặp Trương-Văn-Hổ; thẳng đường hồi tiên. (140)

Mặc Nhi qua ải trận-tiền;

(139) canh cửa Lục; chờ thuyền quân-lương.

V́ Trương-Văn-Hổ không lường;

Bị Dư (139) chận đánh; thuyền lương đắm ch́m.

Quân Nguyên mất hết niềm tin;

Riêng Trương-Văn-Hổ; trốn t́m Quỳnh-Châu.

Khánh-Dư lập được công đầu; (141)

Đánh ch́m hầu hết thuyền tàu Nguyên-Mông.

Tin vui, khẩn báo Nhân-Tông;

Thượng-Hoàng mừng-rở, ghi công Dư-Trần. (141)

Đồng thời nói với Hưng-thần:

“Mông-Nguyên chỉ mạnh; cốt phần quân-lương.

Nay lương, vũ-khí… bị bương(mất hết);

Thoát-Hoan nghe tỏ; sẽ lường tháo lui.”

Hưng-Vương nghe nói mừng vui; (142)

Thả tù Nguyên tặc; bùi-ngùi báo Hoan:

“Rằng thuyền lương-thảo nát-tan;

Thủy-quân bị giết; vài ngàn hàng binh.

Quân Trần làm chủ t́nh-h́nh;

Tướng Trương-Văn-Hổ, tự ḿnh thoát thân.”

Nghe tin, Hoan bị bần-thần; (143)

Lệnh cho Quan, Tướng; rút quân quay về. (143)

Phần Nhi, vẫn cứ ngủ mê;

Chờ thuyền lương tới, chẳng hề thấy đâu.

Ô-Nhi cảm thấy điên đầu;

Xua quân đánh phá tuyến-đầu An-Hưng.

-----------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(140)- Đúng như dự-đoán và kế-hoạch của Trần-Khánh-Dư. Sau khi gặp được đoàn thuyền của Trương-Văn-Hổ, Ô-Mă-Nhi đă cho thủy-quân quay lại và đi vào cửa sông Vân-Đồn trước. Phần Trần-Khánh-Dư, (704) Ông điều quân phục-kích, chờ cho đoàn thủy-quân của Nhi đi qua. Đến khi đoàn thuyền lương của Trương-Văn-Hổ xuất-hiện, Khánh-Dư (704) ra lệnh cho quân vây đánh. Hầu hết thuyền lương và vũ-khi của Mông-Nguyên đều bị quân Khánh-Dư  tịch thu và đánh ch́m. Quân Nguyên chết đuối rất nhiều. Số tàn quân c̣n lại bị bắt làm tù-binh hoặc t́m đường tẩu thoát. Riêng Trương-Văn-Hổ sang một chiếc thuyền nhỏ; trốn về Quỳnh-Châu thuộc Quảng-Đông. 

(141)- Sau khi đại thắng trận Vân-Đồn, Trần-Khánh-Dư liền sai người báo tin cho Vua Nhân-Tông biết: “Đă dẹp tan đoàn tàu thuyền chở lương-thực và vũ-khí của Mông-Nguyên; do Trương-Văn-Hổ chỉ-huy. Đồng thời tịch-thu lương-thực, vũ-khí, rồi đánh ch́m hầu hết tàu thuyền của địch quân và bắt làm tù-binh rất nhiều. Tàn quân c̣n lại đă tẩu thoát cùng với Trương-Văn-Hổ.” Khi Thái-Thượng-Hoàng hay tin Trần-Khánh-Dư đă lập được công lớn, Ngài không những đă xá tội Khánh-Dư bại trận lần trước; mà c̣n khen thưởng Ông. Đồng thời c̣n nói với Trần-Hừng-Đạo: “Hăy thả đám tù-binh Mông-Nguyên, để họ về báo tin cho Thoát-Hoan biết là đoàn thuyền chở lương-thực, vũ-khí, quân-trang, quân-dụng của họ, đă bị quân ta tịch-thu và đánh ch́m hầu hết. Tin này sẽ làm cho tinh-thần họ sa-sút, tuyệt-vọng; không c̣n sức chiến đấu nữa và sẽ rút quân về.”

(142)- Hưng-Đạo-Vương nghe Thượng-Hoàng nói, Ông cảm thấy thật vui trong ḷng và đă thi-hành như lời Thượng-Hoàng bàn thảo và căn-dặn.

(143)- Và qủa thật, khi Thoát-Hoan nghe tin quân ḿnh đại bại, chết-chóc, mất hết tàu thuyền, lương-thực, vũ-khí, quân-trang và quân-dụng… Hắn đă trở nên thối chí. Quan, Tướng và binh sĩ tuyệt vọng v́ không c̣n lương, lại thêm ốm đau bệnh tật… Ai nấy đều xôn-xao muốn trở về Tàu. Riêng Ô-Mă-Nhi cứ măi ở Vạn-Kiếp chờ đoàn thuyền lương từ Vân-Đồn tới, nhưng không thấy đâu. Hắn liền kéo quân ra đánh phá đồn An-Hưng ở Quảng-Yên. Sau đó lại rút về Vạn-Kiếp. Để hợp cùng với Thoát-Hoan bàn thảo kế-hoạch lui quân.

 

Rồi về Vạn-Kiếp tập-trung;

Cùng Hoan liên-kết, liệu-chừng tháo lui. (143)

Thoát-Hoan quyết-định đường lùi; (143)

Chia làm hai ngă, (143) rút lui về Tàu.

Ô-Nhi, Phàn-Tiếp phải mau;

Lui quân đường thủy, tuyến-đầu Đằng-Giang.

Trịnh-Phi, Trương-Quán sẵn-sằng;

Dẫn quân đường bộ; dễ-dàng trợ binh.

Hưng-Vương dơi sát t́nh-h́nh; (144)

Điều quân phục-kích, liệu t́nh tấn-công.

Lệnh cho Nguyễn-Khoái đường sông: (144)

“Đóng sâu cọc nhọn, bịt đồng, sắt gang.

Dụ cho thuyền địch đi ngang;

Triều lên, rút chạy; xin hàng giả thua.

Đợi khi triều xuống, ập lùa;

Xông lên giết sạch, không chừa một tên.”

Khoái vương nhận rỏ lệnh truyền.

Sai quân thực-hiện, nguyên-tuyền lệnh ban.

Ô-Nhi, Phàn-Tiếp lơ-làng;

Không hay mưu-kế; Khoái đang vây ḿnh.

Về đường tháo chạy bộ binh; (145)

Hưng sai Lăo, Nghĩa; phục binh Ải-Bàng (145)

Chờ khi Hoan tặc đi ngang;

Ùa ra tập-kích, chận đàng Nguyên-Mông.

Sau khi bố-trí tấn-công;

Hưng hay Nhi, Tiếp; tới sông Bạch-Đằng. (146)

Hô quân truy-đuổi thật hăng;

Tới Giang, trỏ (sào) xuống thề rằng: “Diệt Nguyên!”  (146)

“Trận này không dẹp được yên;

Sẽ không trở lại vùng miền Hóa-Giang…!”

------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(143)- “Thoát-Hoan quyết-định đường lùi;”: Thoát-Hoan sau khi thảo luận với Ô-Mă-Nhi và các Tướng-Lănh; hắn quyết định chia làm hai ngă để rút quân về Tàu. Đường sông; do Ô-Mă-Nhi và Phàn-Tiếp dẫn thủy quân qua ngă sông Bạch-Đằng. C̣n đường bộ, th́ sai Trịnh-Bằng-Phi và Trương-Quán, dẫn binh qua ngă Đại-Bàng thuộc Lạng-Sơn, để hổ-trợ cho Thoát-Hoan rút lui về châu Tư-Minh của Tàu.   

(144)- Hưng-Đạo-Vương đă cho người theo dơi sát mọi kế-hoạch rút quân của Thoát-Hoan. Nên về đường sông, Ngài đă sai Tướng Nguyễn-Khoái, (710) dẫn quân đến phục-kích ở thượng-lưu sông Bạch-Đằng. Cho người làm cọc có đầu nhọn được bịt bằng đồng hay sắt; rồi đóng sâu xuống ngăn ḷng sông. Chờ khi thủy triều lên, th́ dụ địch đi qua khúc sông có đóng cọc. Và khi triều xưống, th́ quân phục-kích ào ra đánh đuổi quân Nguyên. Nếu có thể, th́ giết sạch không chừa tên nào. Và Tướng Nguyễn-Khoái đă chấp-hành đúng như lệnh truyền. Trong khi Ô-Mă-Nhi và Phàn-Tiếp không hề hay biết về âm mưu này của Đại-Việt.  

(145) Về đường bộ, Hưng-Đạo-Vương sai Tướng Phạm-Ngũ-Lăo và Nguyễn-Chế-Nghĩa; dẫn quân lên phục-kích tại Ải Đại-Bàng, Lạng-Sơn. Chờ khi Thoát-Hoan đi qua; th́ xông ra đánh để chận đường rút lui cuả quân Nguyên-Mông.  

(146) Sau khi bố trí xong kế-hoạch phục-kích quân Nguyên của Thoát-Hoan rút theo đường sông cũng như đường bộ. Hưng-Đạo-Vương hay tin; thủy quân của Ô-Mă-Nhi và Phàn-Tiếp đă tiến tới khu-vực sông Bạch-Đằng. Ngài liền điều quân Đại-Việt đuổi theo thật nhanh, và hô quân hăy cùng trỏ xuống sông Hóa-Giang (146) thề rằng: “Trận này không phá được giặc Nguyên, sẽ không trở lại khúc sông này nữa!”

 

 

Quan, quân Đại-Việt sẵn-sàng; (147)

Tinh-thần quyết chiến, đánh tan giặc Tàu. (147)

Tướng, binh hăng-hái cùng nhau;

Hô mau tiến tới tuyến-đầu Đằng-Giang. (148)

Đang khi di-chuyển giữa đàng;

Nghe tin Nhi, Tiếp; (148) Đằng-Giang theo ḍng.

Bổng gặp Nguyễn-Khoái ngăn sông,

Chúng liền tiến đánh; không pḥng mưu sâu.

Nhằm khi thủy-triều lên mau;

Mênh-mông sóng nước; đoàn tàu đuổi theo.

Thủy Nguyên, gặp thế hiểm-nghèo; (149)

Không hề hay biết, đường theo đă cùng.

Nhằm khi triều xuống, Khoái tung;

Toàn quân phục-kích khắp vùng xông ra.

Bủa-vây Nguyên tặc gian-tà;

Phản-công tới-tấp, Nguyên đà rút lui.

Hưng-Vương ùa tới dập-vùi; (150)

Máu quân Nhi, Tiếp; tanh mùi, đỏ sông. (150)

Quân Nguyên bị giết thật đông;

Tàu thuyền vướng cọc, đắm trong hận-thù.

Bốn trăm thuyền chiến bị thu;

Tướng Nguyên: Nhi, Tiếp; bị tù nhục thân!

Thêm Cơ-Ngọc, Lệ; Nguyên-thần;

Muôn quân bị bắt, xác thân ră-rời.

Thủy quân, Hưng dẹp tan rồi;

Tháng ba Mậu-Tư, (1228) muôn đời danh vang!

Hoan nghe; quân-thủy đă tan… (151)

Lệnh quân đường bộ; rút ngang Nội-Bàng. (151)

Bằng-Phi, Xích, Xích, Ngọc, Quan;

Dẫn quân qua Ải Nội-Bàng bị vây. (151)

--------------------------------------------

GHI CHÚ:

(147)- Quân Đại-Việt với tinh-thần quyết chiến phải diệt tan quân Mông-Nguyên, đă cùng nhau hăng-hái tiến nhanh đến khu vực sông Bạch-Đằng-Giang.

(148) Đang khi di chuyển giữa đường, th́ nhận được tin thủy-quân của Ô-Mă-Nhi và Phàn-Tiếp đă tiến đến khúc sông Bạch-Đằng; (148) nơi Tướng Nguyễn-Khoái cho quân đóng cọc dưới ḷng sông. Và Ông đă đưa thủy-quân ra dụ quân Nguyên, rồi giả thua rút lui. Ô-Mă-Nhi và Phàn-Tiếp liền thúc binh đưổi theo giữa ḍng sông nước mênh-mông, không hề hay biết đă mắc phải mưu của thủy-quân Đại-Việt.

(149) V́ không biết được âm-mưu của quân Đại-Việt, đă đóng cọc có đầu nhọn bịt sắt ngang qua ḍng sông để gài bẫy, nên thủy quân Nguyên đă gặp cảnh hiểm nghèo; bị dồn vào thế đường cùng. Nên khi quân phục-kích của Nguyễn-Khoái khắp nơi ùa ra vây đánh tứ bề, thủy quân Nguyên đă không trở tay kịp đành phải rút lui…

(150)- Nhưng không ngờ lại gặp quân của Hưng-Đạo-Vương ùa tới tiếp-viện, tấn-công tới-tấp… Nên hàng chục ngàn quân của Ô-Mă-Nhi, Phàn-Tiếp bị giết và chết đuối. Tàu thuyền th́ bị vướng cọc nhọn, đâm thủng và bị đắm tứ-tung. Máu quân binh bị giết chảy loang đỏ khắp ḍng sông. Hơn 400 thuyền bị tịch-thu. Các Tướng: Ô-Mă-Nhi, Phàn-Tiếp, Cơ-Ngọc, Tích-Lệ và hàng chục ngàn thủy quân đều bị bắt làm tù-binh. Đây là chiến tích lẫy-lừng, muôn-đời Danh vang; do Hưng-Đạo-Vương lănh-đạo chỉ-huy; cùng với các Tướng-Lănh và quân Đại-Việt, đă dẹp tan toàn-bộ lực-lượng Thủy-quân của nhà Nguyên; trên sông Bạch-Đằng vào tháng ba, Năm Mậu-Tư (1288).

(151-) Khi Thoát-Hoan hay tin Thủy-quân Nguyên; do Ô-Mă-Nhi và Phàn-Tiếp chỉ-huy; đă bị đại bại trên sông Bạch-Đằng. Hắn ra lệnh cho các Tướng: Trịnh-Bằng-Phi, A-Bát-Xích, Áo-Lỗ-Xích, Trương-Ngọc và Trương-Quan (hay Quân); dẫn toàn lực bộ-binh rút về Tàu qua Ải Nội-Bàng thuộc Lạng-Sơn).Nhưng Hoan đă không ngờ bị quân Đại-Việt phục-kích bủa vây.

 

 

Bởi Phạm(Ngũ-Lăo), phục-kích nơi đây, (152)

Điều-quân tiến đánh, “Nguyên bầy” tan-hoang.

Trương-Quân, bảo hậu (hộ-tống) Thoát-Hoan;

Bị Phạm chém chết, giữa đoàn tàn binh.

Thoát-Hoan, cảm thấy thất-kinh;

Cho dù thoát được; Ải-binh Nội-Bàng.

Đại-quân Nguyên-tặc; vỡ-tan…

Mười phần, tổn sáu; ngơ-ngàng lùi binh.

Đang lui, Hoan lại hay tin; (153)

Nữ-Nhi, Ki-Cấp; Việt-binh lan-tràn.

Ầm-ầm, quân Việt reo vang;

Đuổi theo, thúc vó; Hoan càng lo-âu.

Lệnh A-Xích, Ngọc đi đầu; (153)

C̣n tên Lỗ-Xích; đi sau canh-pḥng.

Giữa đường, bị Việt tấn-công; (154)

Mưa tên xối-xả, tử-vong đầy đàng. (154)

Xác thù, từng đống ngỗn-ngang;

Trương-Ngọc, Bát-Xích; Tướng tàn tử-thi…!

Chỉ c̣n bại Tướng Bằng-Phi; (155)

Giúp Hoan thoát khỏi biên-thùy (155) Việt, Trung.

Riêng tên Lỗ-Xích, (156 )sau cùng;

Loanh-quanh thu nhặt; khắp vùng tàn quân. (156 )

Thương binh lê-lết tấm thân;

Theo Hoan thất-thểu, dần-dần Yên-Kinh. (156 )

Sau khi tái-lập ḥa-b́nh; (157)

Giặc Nguyên quét sạch, nội t́nh chấn-hưng.

Hưng vương Quốc-Tuấn vui mừng;

Thỉnh mời Xa Giá, tưng-bừng hồi Kinh

Long-Hưng, dừng trước Chiêu-Linh; (158)

Hiến-phù lễ bái; “tù h́nh Tướng Nguyên”.

-------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(152)- “Bởi Phạm(Ngũ-Lăo), phục-kích nơi đây,”: V́ các Tướng Phạm-Ngũ-Lăo và Nguyễn-Chế-Nghĩa đă được lệnh Đại-Vương Trần-Hưng-Đạo, dẫn quân phục-kích Thoát-Hoan và đại-quân Nguyên tại địa-điểm Nội-Bàng này. Và khi đoàn quân của Thoát Hoan đến, đă bị quân Đại-Việt đánh tan-tành… Và tướng Trương-Quân đi sau để bảo-vệ Thoát-Hoan, đă bị Tướng Phạm-Ngũ-Lăo chém chết. Mặc dù Hoan đă chạy thoát được qua Ải phục binh ở Nội-Bàng. Nhưng đại quân Nguyên đă bị quân Đại-Việt đánh tan, mười phần; mất tới sáu.   

(153)- “Đang lui, Hoan lại hay tin;”: Và khi đang lui quân, Thoát-Hoan lại được tin, tại các Ải Nữ-Nhi và núi Ki-Cấp; có rất nhiều quân Đại-Việt phục kích. Thêm vào âm điệu reo ḥ vang-dội của đơàn quân Đại-Việt thúc vó ngựa đuổi theo… khiến Thoát-Hoan cảm thấy hoảng-hốt lo-lắng.  Hắn liền sai hai tướng A-Bát-Xích và Trương-Ngọc đi đầu mở đường. C̣n Áo-Lỗ-Xích đi sau cùng để chận đường phần nào sự tiến-công của quân Đại-Việt.   

(154)- “Giữa đường, bị Việt tấn-công;”: Tuy nhiên, khi đoàn quân của Hoan đi ngang khu vực Ải Nữ-Nhi và núi Ki-Cấp, th́ bị quân Đại-Việt phục kích trên các điểm cao, dùng tên độc bắn xối-xả… khiến đại quân Nguyên chết nằm la-liệt, ngỗn-ngang và chất thành đống. Riêng hai tướng Trương-Ngọc và A-Bát-Xích bị tử vong trong trận này.    

(155)- “Chỉ c̣n bại Tướng Bằng-Phi;”: Và duy chỉ c̣n lại tướng Trịnh-Bằng-Phi, hộ tống Thoát-Hoan trốn khỏi Ải Đan-Kỹ, Lộc-Châu; rồi lẻn đi đường tắt qua biên thùy Việt-Trung về châu Tư-Minh bên Tàu. 

(156)- “Riêng tên Lỗ-Xích,”: Riêng tướng Áo-Lỗ-Xích đi sau, chạy thoát được và không bị giết. Nên hắn đă thu góp tàn quân, rồi chạy theo Thoát-Hoan về Tàu.   

(157)- “Sau khi tái-lập ḥa-b́nh;”: Sau khi dẹp tan giặc Mông-Nguyên, ḥa b́nh được lập lại. Hưng-Đạo-Vương Trần-Quốc-Tuấn cảm thấy rất vui mừng và nghĩ ngay đến việc phục-hưng Đất Nước. Nên Ngài đă đưa quân về Thái-B́nh thỉnh mời vua Nhân-Tông, Thái-Thượng-Hoàng và Triều-Đ́nh về lại Kinh Thành Thăng-Long.

(158)- “Long-Hưng, dừng trước Chiêu-Linh;”: Trên đường về Kinh, khi đi ngang qua phủ Long-Hưng (Thái-B́nh), nơi có các Đền Miếu và Lăng-Mộ (Chiêu-Linh hay Chiêu-Lăng) tôn thờ Linh-Hồn các Tiên Vương nhà Trần. Vua Nhân-Tông ra lệnh đoàn người ngừng lại và bắt các Tướng nhà Nguyên là: Ô-Mă-Nhi, Phàn-Tiếp, Cơ-Ngọc và Tích-Lệ… là những tù  binh h́nh-sự. Phải đến đứng rước các Lăng-Mộ, để làm Lễ Hiến-Phù. Tôn kính và bái phục vong-linh các Tiên Vương Trần-Triều; để mừng chiến thắng.

 

 

Ô, Phàn, Cơ, Tích; lệnh truyền: (158)

“Gập thân tôn-phục; Tổ Tiên Trần-Triều.” (158)

Về Kinh, hạnh-phúc trăm điều…!

Vua sai Quan, Tướng; Vương-Triều khao quân. (159)

“Thái-B́nh Diên-Yến!” (159) cùng dân;

Ba ngày vui thỏa; quân, dân reo ḥ.

Thái-Tông cảm-hứng thành Thơ; (160)

Dâng lên Tiên-Tổ, “Cơi-Bờ Nước Nam”:

“Quê-Hương, thạch mă dọc ngang; (160)

Sơn-Hà, thiên cổ vững-vàng kim-âu!”

Trước khi luận tội, công-đầu;

Vua sai Đỗ(Thiên)-Thứ sang Tàu hiệp-thương. (161)

Hầu mong Đại-Việt vĩnh cường;

Dân-t́nh yên-ổn, phố-phường an-vui.

Vua Nguyên, bất-đắc(dĩ) thuận xuôi; (162)

Dẫu đà(đă) tam bận; khó nguôi hận-thù!

Nhân-Tông mẫn-cảm đền-bù; (163)

Trả về Nguyên-Quốc; đoàn tù Mông-Nguyên.

Tích, Cơ; hai Tướng vẹn-tuyền.

Ô(Mă)-Nhi, ác Tướng; d́m thuyền chết trôi.

Vua cho hỏa-táng; cốt hồi Tàu-Nguyên.

Thân-nhân nhận xác vẹn-tuyền;

Vua ban người, ngựa; về Nguyên hẳn-ḥi.

Bang-giao Nguyên, Việt xong-xuôi; (164)

Vua lệnh thưởng, phạt; trung-tôi, phản-thần. (164)

Phẩm-hàm, ban thưởng trung-quân;

Vương-Hầu, khanh-tướng; công-thần diệt Nguyên.

Tướng, binh; quốc-tính vơ-biền;

Nếu không cùng Họ; lệnh truyền thưởng công.

------------------------------------------------------------

GHI CHÚ:

(158)- “Long-Hưng, dừng trước Chiêu-Linh;”: Trên đường về Kinh,